KHÔNG THỂ KHÁC!
1. Hai người bạn trò chuyện với nhau:
- Mày có biết tham nhũng là xấu xa lắm không? – Có biết; – Mày có biết những đồng tiền tham nhũng là mồ hôi nước mắt của người dân, trong đó có cả những người là bà con, cô bác, anh chị… của mày không? – Có biết; – Thế mày có biết người ta đang ca thán, nguyền rủa những thằng như mày không? – Có biết; Vậy tại sao mày vẫn cứ tham nhũng? – Vì không thể khác được mày ạ! Tao không làm thế thì bị xem là “thành phần cá biệt” như chơi, nguy lắm.
2. Một người bạn trò chuyện với bác sĩ:
- Ông có nghe người ta đang nói nhiều đến hiện tượng “phong bì”, “phong bao” trong bệnh viện không? – Có nghe; Ông có là “đối tượng” của tình trạng đó không? – Tôi cũng không là ngoại lệ; – Thế ông có biết người nhà bệnh nhân đã phải rất khổ sở, họ đang chạy đến muốn lìa đôi chân, phải khóc đến hết nước mắt, phải cố nhịn ăn, nhịn uống mới có được một khoản tiền nhỏ để khám chữa bệnh hay không? – Có biết; – Ông có biết là ông quá ác và quá nhẫn tâm khi đòi hỏi những đồng tiền của những người khốn khổ đó hay không? – Đôi lúc tôi cũng cảm thấy xấu hổ nhưng … ; – Không nhưng nhị gì hết! – Tôi cam đoan là ông đều biết, biết tất tần tật. Nhưng tôi không hiểu tại sao ông lại làm thế? – Vì không thể khác được ông ạ! Ai cũng làm vậy thì khác thế đ. nào được.
3. Một người bạn trò chuyện với thầy giáo:
- Là thầy giáo chắc ông có biết đến chuyện chạy trường, chạy lớp chứ? – Tất nhiên!; – Thế ông nghĩ sao về thực trạng này? – Ui chà, ai có nhu cầu thì cứ chạy chứ nghĩ với ngợi gì? – Tôi nghe nói ở nhiều trường người ta ra giá hẳn hoi, có khi lên đến vài chục ngàn USD cho mỗi suất luôn đó? – Có nghe; – Thế ông có từng tham gia mấy vụ này không? – Cũng đôi khi vì một vài mối quan hệ mà phải đành chấp nhận thôi; – Thế ông có biết làm vậy là bất công với những em có hoàn cảnh gia đình khó khăn và vi phạm đạo đức làm thầy không? – Thì tôi chỉ … cải thiện đời sống thôi mà. Vã lại mấy ông quan chức, bác sĩ… thu nhập cao ngất ngưỡng còn là thế huống hồ thu nhập ba cọc, ba đồng như tôi …; – Chẳng lẽ vì mấy đồng tiền mà ông bán rẻ danh dự cao quý của người thầy mà xã hội đã dành cho ông sao? – Vì không thể khác được ông ạ! Tôi không làm thì người khác cũng làm thôi mà.
…
Trên đây chỉ là vài ví dụ điển hình cho một xu hướng “không thể khác được” đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày hiện nay. Dường như để khỏa lấp hay đánh lừa cảm nhận của mình về những gì đang tồn tại như một thứ dịch bệnh thì không có gì tốt hơn là đẩy trách nhiệm về phía cơ chế hay xu hướng xã hội. Bởi nói là do cơ chế, do xu hướng thì không thể cưỡng lại được, không thể thay đổi được, và tất nhiên mục đích cuối cùng là để chối bỏ những tội lỗi của mình.
Thật không thể chấp nhận được khi chỉ vì lòng tham mà người ta đã đánh mất lương tri, đạo đức hay giá trị dù chỉ đang loe loét của chính mình. Vì tiền người ta sẵn sàng chấp nhận lấy đi những gì còm cỏi nhất, cơ cực nhất và kể cả niềm hy vọng nhỏ nhoi của người dân nghèo, trong đó có cả những người thân của mình.
Đáng buồn thay khi những chuyện vốn được xem là hy hữu, là đáng lên án ở những xã hội tiên tiến khác lại được xem là “chuyện thường ngày ở huyện” ở quê hương mình.
Hôm kia, tôi có nghe một câu chuyện về gia đình một ông cán bộ công an ở huyện nọ. Sau khi đã về hưu an hưởng tuổi già với cơ ngơi được xem là khá đồ xộ ở một vùng nông thôn nghèo. Nhưng oái ăm thay, nghỉ ngơi chưa được vài hôm thì được tin thằng con trai lâm vào cảnh nợ nần chồng chất do cá độ đá banh, đánh bài đánh bạc.
Đáng nói là số nợ này đã tích tụ từ nhiều năm nay, tức từ lúc ông bố còn đương chức. Cậy thế cha, cậu con trai mượn tiền khắp nơi, số nợ lên đến con số mấy tỉ đồng. Giờ người cha hết chức quyền rồi thì cũng là lúc chủ nợ đến đòi tiền và có khả năng phải bán nhà, bán đất tất tần tật để trả nợ cho con.
Nhiều người thầm nghĩ: Của thiên thì trả địa mà thôi. Thật là đơn giản. Một sự thật đơn giản đến hiển nhiên.
Lẽ thường, những đồng tiền do mồ hôi, nước mắt kiếm ra thì người ta mới thực sự quý, chứ còn tiền từ trên trời rơi xuống, từ những phi vụ “áp phe”, làm ăn bất chính thì rồi cũng bỏ ta mà đi, không bằng cách này thì cách khác.
Trong khi đa phần những người dân lao động chân chính đang phải vật lộn với bao nhiêu thứ bộn bề trong khó khăn chồng chất thì vẫn còn đâu đó rất nhiều người đang nhỡn nhơ tiêu xài phung phí những đồng tiền của người khác, lại còn tỏ ra tự hào vì điều đó. Thật là trơ tráo khôn cùng.
“Không thể khác”, “Không thể khác”… Không biết đến bao giờ cái điệp khúc khốn nạn ấy sẽ thôi được cất lên mỗi khi có người nhắc đến?
Nếu cứ kêu mãi kêu ca “không thể khác” trong khi chẳng có gì khác cả thì rồi đây cái kết cục bi thảm “không thể khác” như ông quan huyện kia hay còn hơn thế nữa sẽ vẫn đang chờ đợi ở phía trước. Đó là kết quả hiển nhiên mà thôi.
- Trần Minh Quân
Bệnh tay chân miệng và câu hỏi với Bộ Y tế
Vụ án bắt cóc chỉ liên quan đến một em bé nhưng đã nhận được sự chú ý và quan tâm rất lớn của dư luận nói chung và ngành y tế nói riêng bởi xét cho cùng sự sống, tính mạng của con người là quan trọng nhất. Trong khi đó dịch bệnh tay chân miệng liên quan đến sinh mệnh hàng chục ngàn người thì lại nhận được sự quan tâm không tương xứng từ ngành y tế.
Bệnh tay chân miệng (TCM) đang hoành hành ở mọi nơi trên toàn quốc. Tính đến thời điểm này, bệnh TCM đã xuất hiện tại hầu hết 63 tỉnh thành, số ca nhiễm bệnh đang tiến sát con số 90.000 và đã có gần 150 trường hợp tử vong. Đáng nói là tình hình vẫn còn đang diễn biến phức tạp, chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Quả thật, đây là một thực tế đáng báo động, gây hoang mang trong xã hội.
Công bố dịch là… hành động vĩ đại?
Đã có nhiều ý kiến cho rằng các địa phương và cả Bộ Y tế cần công bố dịch để xã hội nhận thức rõ hơn về mức độ nguy hiểm cũng như dành sự quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa cho công tác phòng chống dịch TCM của ngành. Tuy nhiên những cảnh báo này vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của những người có trách nhiệm. Nhiều người đã cảm thấy thất vọng và hoài nghi trước sự im lặng đáng sợ này.
Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp và dường như đã vượt quá khả năng chịu đựng nên điều gì đến ắt phải đến. Tỉnh Ninh Thuận là địa phương đầu tiên công bố dịch. Theo đó, lý do để công bố dịch được nêu ra là toàn tỉnh đã phát hiện 471 trường hợp mắc bệnh, 3 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2010 tăng 23,7 lần. Bệnh xuất hiện ở 54/65 xã, phường trên phạm vi 7/7 huyện, thành phố.
Đến nay, Ninh Thuận vẫn là địa phương đầu tiên và duy nhất dám “dũng cảm” tuyên bố… có dịch. Sự việc ngay lập tức nhận được sự quan tâm của dư luận, đến mức một bài viết trên báo Lao động đánh giá đây là một hành động vĩ đại, trong khi đáng lý ra việc này nên được xem là tất nhiên và phải công bố từ lâu.
Khi phát biểu trên Tuổi trẻ, ông Viên Quang Mai, Phó Viện trưởng Viện Pasteur Nha Trang cho rằng: “Khi mức độ ca mắc bệnh tăng ít nhất gấp ba lần các năm trước đó, xuất hiện nhiều ca bệnh nặng, tử vong hơn trước là có thể công bố dịch”. Vậy mà cho đến khi không kiểm soát nổi, tăng đến 23,7 lần so với năm trước, Ninh Thuận mới chấp nhận công bố dịch.
Trong khi đó thì tại Quảng Ngãi, có thời điểm số tử vong lên đến 5 trường hợp và tỉ lệ mắc bệnh cao gấp … 45 lần so với cùng kỳ năm trước mà địa phương này vẫn “ngoan cố” không chịu công bố dịch.
Khi trả lời báo VietNamNet, một số quan chức ngành y tế Quảng Ngãi khẳng định đã kiểm soát được bệnh TCM và hiện nay số ca nhiễm bệnh đã giảm đến 80% thì Ninh Thuận lại bắt đầu công bố dịch. Xét về tương quan lực lượng y bác sĩ, trang thiết bị khám chữa bệnh và điều kiện kinh tế giữa hai địa phương nghèo của miền Trung này thì những con số báo cáo tại Quảng Ngãi thật đáng ngờ, nhất là trước đó Quảng Ngãi từng là địa phương có số ca mắc bệnh TCM cao nhất trong khu vực.
Quá bức xúc trước tình trạng bệnh TCM bùng phát, TS Nguyễn Văn Khải đã đề xuất một phương pháp điều trị bằng dung dịch Anolyt. Đáng nói là TS Khải, với biệt danh “ông già Ozon”, cam kết chữa bệnh miễn phí cho người dân và những gì đang diễn ra tại Ninh Thuận đang có những chuyển biến tích cực.
Mặc dù phương pháp của TS Nguyễn Văn Khải vẫn còn nhiều tranh cãi, hoài nghi và cần nhiều thời gian hơn để kiểm chứng, nhưng rõ ràng sự xông xáo của ông lại trái ngược hoàn toàn với những gì ngành y tế đang thể hiện. Dường như sự xuất hiện của một người “ngoại đạo” như ông đã khiến cho không ít người trong ngành y tế “tự ái”. Và kết cục là đã có yêu cầu TS Khải phải ngưng chữa bệnh TCM không cần đối chất, tranh luận hay kiểm chứng của ngành y tế.
![]() |
|
Bệnh tay chân miệng (TCM) đang hoành hành ở mọi nơi trên toàn quốc. Ảnh: TTO |
Tại sao lại sợ công bố dịch?
Trước những thực tế đó thì Bộ Y tế vẫn khăng khăng bảo vệ quan điểm của mình, đó là không công bố dịch. Mới đây, Bộ trưởng Bộ Y tế lại cho biết sẽ công bố dịch nếu có địa phương thứ hai công bố dịch. Đến đây thì nhiều người sẽ tự hỏi tại sao một hành động rất có trách nhiệm, dám nhìn nhận sự thật này tại Ninh Thuận lại được xem là vĩ đại? Và, tại sao người ta lại sợ phải công bố dịch đến thế?
| Sau những gì đã xảy ra, chỉ có ba cách lý giải hiện tượng này một cách chính xác nhất. Một là bệnh TCM quá khó chữa trị, vượt ra ngoài khả năng của ngành y tế. Hai là những người có trách nhiệm trong ngành y tế của địa phương và trung ương vẫn đang thờ ơ với tính mạng của người dân, ở đây là trẻ em, xem bệnh TCM như là bệnh của ai đó chứ không phải bệnh của người thân, của con em mình. Ba là người ta sợ khi công bố dịch bệnh sẽ làm những báo cáo thành tích hàng năm vốn vẫn thường được tô hồng ấy bị nhạt màu. |
Sau những gì đã xảy ra, chỉ có ba cách lý giải hiện tượng này một cách chính xác nhất. Một là bệnh TCM quá khó chữa trị, vượt ra ngoài khả năng của ngành y tế. Hai là những người có trách nhiệm trong ngành y tế của địa phương và trung ương vẫn đang thờ ơ với tính mạng của người dân, ở đây là trẻ em, xem bệnh TCM như là bệnh của ai đó chứ không phải bệnh của người thân, của con em mình. Ba là người ta sợ khi công bố dịch bệnh sẽ làm những báo cáo thành tích hàng năm vốn vẫn thường được tô hồng ấy bị nhạt màu.
Với dịch bệnh TCM thì vậy, trong khi đó ta có thể thấy Bộ Y tế rất “nhanh nhẹn” trong vụ bắt cóc trẻ sơ sinh ở bệnh viện phụ sản trung ương. Sau khi bên công an tìm được đứa trẻ bị bắt cóc thì ngay lập tức, Bộ trưởng Bộ Y tế đã có bằng khen cho tổ công tác này.
Vụ án bắt cóc chỉ liên quan đến một em bé nhưng đã nhận được sự chú ý và quan tâm rất lớn của dư luận nói chung và ngành y tế nói riêng bởi xét cho cùng sự sống, tính mạng của con người là quan trọng nhất. Trong khi đó dịch bệnh TCM liên quan đến sinh mệnh hàng chục ngàn người thì lại nhận được sự quan tâm không tương xứng từ ngành y tế.
Từ khi nhậm chức Bộ trưởng bộ Y tế đến nay, có lẽ ấn tượng nhất mà bà Nguyễn Thị Kim Tiến để lại là quyết tâm tăng viện phí và tặng bằng khen. Còn những việc liên quan thiết thực đến đời sống của người dân như dịch bệnh TCM đang diễn ra và dịch vụ y tế thì dường như không có gì thay đổi so với trước đây, ngay cả trong lời hứa.
Nếu những vấn đề còn tồn tại được nhắc đến trong nhiều năm qua của ngành y tế đều được xử lý nhanh nhẹn và tích cực theo phong cách của việc đòi tăng viện phí hay tặng bằng khen kia thì người dân sẽ được an ủi vui mừng biết mấy.
(Bài viết đăng trên Tuần Việt Nam ngày 16.11.2011)
Khi xe buýt cũng biết “hành là chính”
Tác giả: Vệ Đình (*)
Xe buýt là một phương tiện văn minh, hiện đại, được áp dụng và nhận được sự ủng hộ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nhưng tại Việt Nam, ngay cả vị lãnh đạo của một đơn vị vận tải xe buýt như ông Nguyễn Trọng Thông cũng phải thừa nhận là: “Chưa thấy ai khen xe buýt, nhưng la ó thì nhiều”. Đây quả là một thực tế đáng buồn và nhất định phải thay đổi.
Cứ ngỡ nạn chèn ép, hành hung hành khách như đã từng xảy ra trước đây trên những chuyến xe khách đường dài đã là quá vãng thì nay nó lại xuất hiện, ngay tại nơi phố thị, trên những chuyến xe được quảng bá với rất nhiều mỹ từ như: An toàn, văn minh, lịch sự….
“Hung thần” nội thị?
Vào ngày 22.10 vừa qua, trên chuyến xe buýt BKS 30K-1550, chạy tuyến 34, lái xe Đỗ Hữu Long và nhân viên bán vé Nguyễn Chí Thanh đã có hành vi đạp, đánh và bắt hành khách, là anh Nguyễn Ngọc Phúc, phải quỳ xin thì mới cho xuống xe. Sự việc này ngay lập tức đã khiến cho nhiều người bất bình và căm phẫn.
Đáng nói là cách hành xử theo lối côn đồ và vô văn hóa này của nhân viên xe buýt không phải là cá biệt.
Vào ngày 11.3.2011, khi đón xe buýt để đến trường dạy học, thấy 2 cửa xe buýt đều mở, ông Nguyễn Hoài Giang bước lên cửa sau thì bị tài xế xe mang BKS 53N-4160 của Công ty Citranco, tên Võ Hồng Chiên truy cản với lời lẽ xúc phạm. Khi ông giải thích do không biết và đề nghị tài xế không được xúc phạm, ông bị tài xế đấm vào bụng 2 cái. Khi hành khách trên xe phản ứng thì tài xế trên mới chịu thôi.
Cũng tại TP.HCM, vào ngày 21.05.2009, trên chuyến xe buýt mang BKS 53N- 4382 đi từ Bến Thành về Q.12, khi hành khách là anh Thân Minh Ngọc yêu cầu phụ xe mở máy lạnh vì quá nóng, phụ xe đã từ chối vì lý do vận hành máy lạnh sẽ tiêu tốn nhiên liệu nhiều hơn. Thế là đôi bên lời qua tiếng lại và phụ xe Trần Văn Long đã dùng khối gỗ đánh vào đầu anh Ngọc, máu chảy đầm đìa.
Và còn rất nhiều sự việc khác tương tự đã xảy ra với cách thức và mức độ khác nhau. Chuyện lời qua tiếng lại, quát nạt, chửi bới, nhồi nhét … hành khách đã là “chuyện thường ngày ở huyện” mà rất nhiều người đã phản ánh.
Không chỉ phục vụ khách theo kiểu…hành, xe buýt luôn là nỗi ám ảnh thường trực cho người đi đường. Có rất nhiều vụ ùn tắc giao thông hay tai nạn gây chết người do xe buýt phóng nhanh, vượt ẩu, lấn tuyến, tranh giành hành khách… đã xảy ra. Nếu gọi những chiếc xe ben là hung thần trên xa lộ thì xe buýt xứng đáng được gọi là hung thần trong nội thị. Đến nỗi có người còn ví xe buýt bằng một hình ảnh rất ấn tượng, đó là những chiếc quan tài bay.
Xe buýt từ lâu đã nhận được sự ưu ái đặc biệt của ngành GTVT nói riêng và của xã hội nói chung. Trên nhiều tuyến đường, mặc dù cấm xe ô tô nhưng xe buýt vẫn được lưu hành. Thường thì tài xế xe buýt chẳng xem CSGT ra gì khi hàng ngày vẫn ngang nhiên phạm luật. Đồng thời, xe buýt đang nhận được sự trợ cấp rất lớn từ ngân sách Nhà nước.
Phải chăng xe buýt đang tự xem mình là đứa con cưng, do được quá nuông chiều nên mới ra cơ sự như ngày hôm nay?
|
Sau khi bị đánh và bắt quỳ, anh Phúc được tài xế cho xuống bằng cửa trước. Ảnh: Tiến Dũng – VNE |
Văn hóa xe buýt… báo động đỏ?
Mặc dù đã được phản ánh rất nhiều nhưng đến khi xảy ra sự việc tài xế, phụ xe buýt bắt hành khách phải quỳ lạy, van xin mới mở cửa cho xuống thì đã đến lúc nạn hành xử thô bạo, vô văn hóa của nhân viên xe buýt nói chung đã thực sự cần báo động đỏ.
Không ai cho phép một người phụ xe, tài xế xe buýt có quyền hạch sách, dọa nạt, hạ nhục, thậm chí đánh đập… hành khách, nhưng phải chăng vì thiếu văn hóa hay tiêm nhiễm thói cửa quyền, hách dịch từ cấp trên của mình mà ra? Hay do được quá ưu ái quá nhiều nên họ đã lầm tưởng rằng mình có quyền ban phát dịch vụ vận tải cho người khác? Lý nào xe buýt cũng được quyền “hành là chính” như vốn thấy ở các cơ quan công quyền?
Trong quá trình tìm kiếm giải pháp cho nạn ùn tắc giao thông đang là nỗi nhức nhối của xã hội hiện nay, xe buýt dường như là lối thoát duy nhất trong ngắn hạn, thì sự việc trên, tiếc thay chẳng khác nào như một cái tát, tát thẳng vào mặt những nhà quản lý, điều hành ngành GTVT, mà cụ thể là lời kêu gọi đúng đắn của Bộ trưởng Đinh La Thăng, hạn chế xe cá nhân để sử dụng xe buýt.
Theo các số liệu thống kê thì hiện nay, tại TP.HCM xe buýt chỉ đáp ứng khoảng 7.5% nhu cầu đi lại của người dân. Còn đối với Hà Nội con số đó là khoảng 10%. Đối tượng chính sử dụng xe buýt làm phương tiện di chuyển thường là học sinh, sinh viên, công nhân và người thu nhập thấp.
Điều này cho thấy khả năng đáp ứng của xe buýt còn rất hạn chế so với nhu cầu đi lại và chưa nhận được sự ủng hộ của mọi thành phần trong xã hội. Có nghĩa là khả năng phát triển của xe buýt là rất lớn. Xe buýt hoàn toàn có thể thay thế các phương tiện di chuyển khác nếu cải thiện được chất lượng và hình ảnh của mình.
Theo ông Nguyễn Trọng Thông, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty vận tải Hà Nội (Transerco) thì: “Chất lượng dịch vụ xe buýt được cấu thành bởi 5 yếu tố: Chất lượng mạng lưới tuyến xe buýt; chất lượng hạ tầng xe buýt; chất lượng đoàn phương tiện; chất lượng đội ngũ công nhân lái xe-nhân viên bán vé và chất lượng kiểm soát- điều hành”. Trong 5 yếu tố trên thì chất lượng đội ngũ lái xe, nhân viên phục vụ là tương đối độc lập, không phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài như cơ sở hạ tầng hay tài chính và có thể điều chỉnh ngay nếu được quan tâm đúng mức.
|
Lời giải cho thực trạng này không ở đâu xa mà ở ngay trong chính các đơn vị vận tải xe buýt nói riêng và ngành GTVT nói chung. Quan trọng là những người có trách nhiệm đủ can đảm đối diện với sự thật và xắn tay áo lên giải quyết. Chỉ khi nào bài toán chất lượng xe buýt được giải quyết thì mọi cố gắng cứu vãn nạn ùn tắc giao thông và “văn hóa xe buýt” mới đi vào cuộc sống. |
Hiện nay, công tác tuyển dụng, đào tạo nhân viên xe buýt tương đối đơn giản. Với mỗi nhân viên, sau khi được tuyển dụng thì chỉ được làm quen với công việc thực tế vài ngày là có thể chính thức nhận việc. Yêu cầu chính là phải đảm bảo đúng tuyến, đúng giờ còn công tác đào tạo, bồi dưỡng về văn hóa giao tiếp nơi công cộng hầu như không có, mà đây mới chính là yếu tố chính tạo nên chất lượng phục vụ của đội ngũ nhân viên xe buýt.
Trong khi đó, hình thức xử phạt nặng nhất mỗi khi nhân viên xe buýt xô xát, thậm chí đánh đập hành khách vẫn chỉ dừng lại ở mức buộc thôi việc. Với công tác đào tạo và mức xử phạt như thế này thì tình trạng đối xử thô bạo, vô văn hóa với hành khách vẫn sẽ còn kéo dài chưa có hồi kết.
Xe buýt là một phương tiện văn minh, hiện đại, được áp dụng và nhận được sự ủng hộ ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nhưng tại Việt Nam, ngay cả vị lãnh đạo của một đơn vị vận tải xe buýt như ông Nguyễn Trọng Thông cũng phải thừa nhận là: “Chưa thấy ai khen xe buýt, nhưng la ó thì nhiều”. Đây quả là một thực tế đáng buồn và nhất định cần thay đổi.
Lời giải cho thực trạng này không ở đâu xa mà ở ngay trong chính các đơn vị vận tải xe buýt nói riêng và ngành GTVT nói chung. Quan trọng là những người có trách nhiệm đủ can đảm đối diện với sự thật và xắn tay áo lên giải quyết. Chỉ khi nào bài toán chất lượng xe buýt được giải quyết thì mọi cố gắng cứu vãn nạn ùn tắc giao thông và “văn hóa xe buýt” mới đi vào cuộc sống.
(Bài viết đăng trên Tuần Việt Nam ngày 27.10.2011)
(*) Vệ Đình: Bút danh khác của tôi
Cấm chơi golf: Phép thử lòng tự trọng
Bản thân golf không có lỗi. Chỉ có cách thức hình thành các sân golf và cách chơi, người chơi mới thực sự đáng quan tâm.
Golf là một môn thể thao đích thực. Nhiều người khẳng định như thế. Điều đó cũng thể hiện qua việc ngày càng nhiều các giải đấu golf chuyên nghiệp quốc tế và khu vực được tổ chức. Ngay cả tại SEA Game 25, Việt Nam cũng đã có đội tuyển thi đấu bộ môn này.
Nếu đã được xem là bộ môn thể thao đích thực thì phải tạo mọi điều kiện để cho nó phát triển, để cho ngày càng nhiều người được tiếp cận, luyện tập, thi đấu… xem ra mới hợp lẽ. Ấy vậy mà môn thể thao này lại vừa bị Bộ trưởng Đinh La Thăng ra lệnh cấm, không cho cán bộ, viên chức của bộ GTVT tham gia, kể cả ngày nghỉ. Tại sao lại có một quyết định “đi ngược xu hướng phát triển” đến vậy?
Không bàn đến khía cạnh pháp lý của lệnh cấm đó vì đã được nói nhiều và sẽ do các cơ quan chức năng liên quan xem xét, quyết định. Tuy nhiên, bản thân lệnh cấm này cũng đã nói lên nhiều điều mà không phải ai cũng biết. Hoặc nếu biết rồi thì cũng chưa được xem xét một cách thấu đáo và hợp lý.
Đã có một thời, tennis được xem là môn thể thao quý tộc. Nói quý tộc vì những chi phí quá cao so với mức thu nhập trung bình của người dân. Khi ấy, chỉ có một bộ phận rất nhỏ những người có thu nhập cao mới đủ tự tin bước vào sân với đủ các loại chi phí như thuê sân, thuê người lượm banh, thuê huấn luyện viên … và rất nhiều dịch vụ khác. Nhưng rất nhanh, tennis giờ không còn là quý tộc nữa vì nhiều người với thu nhập trung bình cũng có thể tham gia. Giờ đây, nó đã là một môn thể thao phổ biến.
Rồi golf du nhập vào Việt Nam, với sự phát triển ồ ạt về số lượng sân golf trên khắp đất nước, mỹ từ “quý tộc” lại được gán cho bộ môn này. Đúng như thế, hiện nay số lượng, đối tượng người có đủ khả năng trang trải các chi phí để được “ra sân” là không nhiều, thường chỉ là giới doanh nhân thành đạt và quan chức. Và chắc chắn đến một lúc nào đó, vị trí “quý tộc” sẽ nhường cho một loại hình giải trí, một môn thể thao khác mới hơn, đắt tiền hơn như mộ quy luật tự nhiên của sự phát triển. Do đó, việc xã hội chấp nhận nó cũng sẽ là đương nhiên, dù có bao nhiêu lệnh cấm được ban hành. Đó là quy luật mà ai cũng nhận ra, nhất là đối với những người lãnh đạo.
Công bằng mà nói, nếu đối tượng của lệnh cấm ấy không phải là golf mà là một đối tượng khác bất kỳ thì sự việc có lẽ không ầm ĩ đến vậy.
Theo lý giải của Bộ trưởng Đinh La Thăng thì việc chơi golf sẽ tiêu tốn quá nhiều thời gian, công sức của cán bộ quan chức và dễ phát sinh tiêu cực như nạn hối lộ, tham nhũng … trong khi công việc của ngành giao thông đang quá nhiều lại đang thể hiện một bộ mặt be bét như ùn tắc, tai nạn giao thông, các dự án thi công chậm tiến độ …
|
|
|
| Đối tượng chủ yếu của dư luận không nằm ở cái lệnh cấm mà lại chính là golf.Ảnh minh họa |
Sỡ dĩ golf nhận được quá nhiều sự quan tâm của dư luận là vì sự xa hoa trên những sân golf, nơi mà chủ yếu được xây dựng trên những mãnh đất canh tác của người nông dân. Hình ảnh từng đoàn ô tô sang trọng, những dụng cụ đắt tiền, những dịch vụ tốn kém… thực sự quá khác biệt so với cuộc sống của họ. Cũng chính trên những đồng ruộng từ bao đời nay nhưng từ khi có sân golf thì sự phản cảm và bất công bắt đầu xuất hiện.
Rõ ràng, đối tượng chủ yếu của dư luận không nằm ở cái lệnh cấm mà lại chính là golf. Nhưng bản thân golf không có lỗi. Vậy thì chỉ có cách thức hình thành các sân golf và cách chơi, người chơi mới thực sự đáng quan tâm. Khi người chơi hay cách chơi một bộ môn thể thao quý tộc mà chưa thể hiện được văn hóa của người quý tộc thì sự nhố nhăng hay phản cảm xảy ra là điều chắc chắn.
Về nguy cơ tiêu cực hối lộ, tham nhũng. Tất nhiên tại sân golf là nơi lý tưởng để những phi vụ “làm ăn” bất chính có thể xảy ra. Nhưng nếu đã có ý định hối lộ, tham nhũng thì thiết nghĩ cũng chẳng cần tới sân golf để làm gì. Thực tế thì tiêu cực có thể được bắt tay và nảy sinh ở bất kỳ đâu, từ quán nhậu đến công trường hay ở nhà riêng…
Có một thời, những hình ảnh buồn cười từng xảy ra với bộ môn tennis. Nhiều người, trong đó có cán bộ, quan chức cứ đến hẹn lại xách vợt đi, xách vợt về nhưng thực ra đến sân chẳng thể chơi được bao nhiêu, thậm chí không hề động đến cây vợt vì rất khó di chuyển với cái bụng quá khổ. Chỉ có điều, đến sân tennis để thể hiện đẳng cấp. Và giờ đây cũng vậy, chơi golf hay có sự hiện diện trên sân golf đôi khi cũng vì cái đẳng cấp ấy. Nhiều người đến sân golf nhưng liệu thực sự có mấy người chơi được môn thể thao ấy thuần thục?
|
Tính nghiêm túc của một số công chức ở các nơi trong việc xem xét, tính toán giữa lợi ích chung của người dân ở vùng của mình, nhất là người dân bị mất đất làm sân golf với sự phát triển. Nhiều khi các địa phương chỉ ham muốn có được dự án đầu tư đó nhiều hơn, chưa kể những chuyện tiêu cực bên trong. Khi bán đất dễ dàng với giá rẻ như vậy không cân nhắc lợi ích hàng nghìn gia đình nông dân bị mất đất. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan |
Thực ra chuyện cấm cán bộ chơi golf suy cho cùng cũng chỉ là một mệnh lệnh cụ thể của riêng Bộ GTVT, tuy nhiên, như người ta vẫn thường nói “Không có lửa thì làm sao có khói”, tức là chuyện cán bộ ngành GTVT nói riêng, tiêu cực, bỏ bê công việc để đi chơi golf là có thực. Và đây cũng sẽ là câu chuyện chung của mọi bộ ngành khác chứ không riêng gì ở bộ GTVT.
Đến giờ này vẫn chưa biết số phận của “lệnh” cấm ấy ra sao và nếu áp dụng thì người ta sẽ thực hiện nó như thế nào nhưng rõ ràng đây là một sự đánh động cần thiết cho những ai đang dùng golf làm phương tiện và dùng sân golf là nơi để thực hiện những hành vi tiêu cực của mình.
Nếu không kịp thời nhìn nhận lại thì không những môn thể thao đích thực bị chính những đối tượng này bôi bẩn mà còn làm tăng thêm sự bất công, sự phản cảm trong xã hội.
Ai cũng có lòng tự trọng. Nếu đã là cán bộ, nhất là những cán bộ cao cấp, thì lòng tự trọng có lẽ cũng cao. Và đây chính là cơ hội tốt, là sự gợi ý đúng lúc để cho lòng tự trọng thực sự lên ngôi. Hãy thử tự soi xét và kiểm tra lại xem có phải lệnh cấm ấy cũng dành cho mình hay không, bởi chẳng ai có thể kiểm soát nỗi những gì xảy ra trên sân golf tốt bằng chính bản thân các vị?
(Bài viết đăng trên Tuần Việt Nam ngày 26.10.2011)
Nghe doanh nghiệp giãi bày chuyện phá sản
(VEF.VN) – Nhiều chuyên gia nhìn nhận khủng hoảng là thời điểm để sàng lọc doanh nghiệp yếu kém. Nhưng thực tế có những DN giàu kinh nghiệm và hoạt động lâu năm mà vẫn thất bại do thị trường chung quá khó khăn.
Những câu chuyện thật…
Sáng thứ 2, tháng 10 năm 2011, trời mưa như trút nước, đang ngồi bó gối trú mưa trong quán cà phê ven đường thì điện thoại đổ chuông. Đầu dây bên kia là một Giám đốc một DN xây dựng nhỏ, gọi hỏi đang ở đâu và giục í ới. Đang lúc trời mưa, lại cũng chẳng có việc gì quan trọng nên tôi nhận lời và chạy đến địa chỉ như đã hẹn.
Điểm hẹn vừa là nhà ở và cũng là trụ sở của một DN tư vấn, thiết kế xây dựng. Chủ DN này là P., người mà tôi cũng đã từng gặp trước đây. P. cho biết anh mới trả lại mặt bằng, dời trụ sở DN về nhà được vài tháng sau khi không thể kham nổi các loại chi phí liên tục tăng cao mà khối lượng công việc đang thực hiện lại giảm đáng kể so với trước đây. “Dời về nhà cho nó tiện và rẻ tiền”, P. giải thích.
Trò chuyện được một lát thì 4 người nữa bước vào, lại có đến 2 người cũng là chủ DN làm xây dựng. Trong đó, một người là kỹ sư xây dựng, giám đốc một công ty với 6 năm kinh nghiệm, đã từng thi công rất nhiều công trình lớn nhỏ tại TP.HCM trước đây.
Còn một người vừa đầu quân cho Tổng công ty XD số 1, vừa mở công ty riêng. Nếu như trước đây, họ được xem là những doanh nghiệp trẻ thành đạt, tự đứng ra lập công ty riêng và đã có những thành công ban đầu thì đến nay, phần lớn những doanh nghiệp này đang đứng trước bờ vực phá sản, ít nhất là cũng tạm dừng hoạt động.
“Ba, bốn năm về trước, mình thường thi công cùng lúc vài ba công trình. Số công nhân “ruột” thường ở khoảng năm, sáu mươi người, chưa kể các đội thầu phụ khác. Nhưng vài năm trở lại đây, nhất là từ giữa năm 2010 đến nay, công việc giảm hẳn và đến nay thì đã hơn năm tháng không có việc làm. Máy móc, trang thiết bị thi công chất đầy kho, đang có nguy cơ hư hỏng, rỉ sét. Công nhân thì đã đi tứ tán, một số bỏ về quê, số còn lại thì đi tìm công việc khác”. Anh kỹ sư xây dựng kể.
Người còn lại vừa mới mở DN thì nhận ngay được 2 công trình nhà phố, nhưng do giá cả vật tư cứ tăng hàng ngày nên không có lãi. “Rất may là chưa lỗ”, anh này chia sẻ.
Câu chuyện cứ thế tiếp diễn, ai cũng nhất trí rằng đây là thời điểm khó khăn nhất đối với lĩnh vực xây dựng nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung và hiện nay còn khó khăn hơn cả giai đoạn khủng hoảng năm 2008.
![]() |
| Thị trường BĐS đóng băng khiến các DN vật liệu xây dựng và xây dựng có nguy cơ phá sản. Ảnh minh họa |
Gần đây một số chuyên gia kinh tế nhận xét rằng, đây là thời điểm thích hợp để thanh lọc bớt một số doanh nghiệp yếu kém, là cơ hội tốt để các doanh làm ăn kém hiệu quả xem lại chính sách, cách thức quản trị của mình. Các doanh nghiệp nhỏ, các DN làm ăn không hiệu quả sáp nhập lại với nhau. Nhưng theo các doanh nhân này, thì câu chuyện không hẳn như thế.
Anh kỹ sư xây dựng chia sẻ: “Ở đây không phải là vấn đề quản trị mà là không có việc làm. Ngay cả một số trang thiết bị tôi rao bán nhưng không ai mua cả, vì các đơn vị khác cũng đều trong tình trạng tương tự”.
Còn P. thì cho biết “Một phần là do giảm đầu tư công và quan trọng là hiện nay người dân đang rất khó khăn, người ta không làm ra tiền thì làm sao mà mua đất, xây nhà được. Giờ chỉ biết co cụm lại để xem xét tình hình …”
Cần hỗ trợ doanh nghiệp trong khủng hoảng
Công bằng mà nói thì như nhiều ý kiến đã nêu, trong vòng 10 năm trở lại đây, số DN ra đời liên tục tăng, một phần là do các rào cản về pháp luật dần được thông thoáng, phần khác là do có nhiều thuận lợi để phát triển. Tuy nhiên, như một quy luật, đã phát triển ồ ạt thì thường đi kèm với chất lượng kém. Ở đây, chất lượng được hiểu theo nghĩa là khả năng cạnh tranh, trình độ quản trị hay sức đề kháng với những biến đổi thị trường.
Con số gần 49.000 DN phá sản hay ngừng hoạt động trong 9 tháng đầu năm 2011 phần nào phản ánh đúng thực trạng đó. Nhưng với những DN trong câu chuyện kể trên thì không hẳn vậy. Họ được đào tạo bài bản, đã từng có kinh nghiệm trong ngành. Nhưng họ vẫn thất bại.
Nếu nói rằng đây là một tín hiệu lạc quan thì cần xem xét lại. Rõ ràng, việc có hàng ngàn doanh nghiệp phá sản sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế. Theo nhiều chuyên gia thì việc này có thể ảnh hưởng xấu đến nguồn cung cấp hàng hóa cho thị trường.
Một số ý kiến cho rằng các DN nhỏ nên tìm cách liên doanh, sáp nhập lại với nhau để gia tăng nội lực, tăng sức cạnh tranh. Nhận xét này xem ra duy ý chí bởi việc sáp nhập không hề đơn giản như nhiều người vẫn tưởng. Những trở ngại có thể nhận thấy ngay của quá trình sáp nhập là sự không thống nhất nhau trong chính sách quản trị, các phương tiện máy móc phục vụ sản xuất không đồng bộ, việc định giá tài sản gặp nhiều khó khăn và nhất là niềm tin của DN đã bị mất đi rất nhiều.
Trong số gần 49.000 DN phá sản, ta có thể thấy trong đó hầu hết là các DN nhỏ và là DN tư nhân. Thực tế thì lực lượng DN này đang đóng góp vào việc ổn định việc làm cho một lượng lao động khá lớn nhưng họ chưa nhận được sự hỗ trợ vốn và các chính sách khác một cách bình đẳng như đối với các DN nhà nước hay DN lớn khác.
Do đó, có nên chăng trước khi để cho “sống chết mặc bay” thì hãy thử tìm nguyên nhân và có những chính sách hỗ trợ về vốn cũng như các chính sách khác từ phía nhà nước thay vì nhìn sự “phá sản” này là tín hiệu đáng mừng?
Do không có điều kiện tiếp cận với vốn vay và có quy mô nhỏ nên việc sử dụng vốn của các đối tượng DN nhỏ này thường rất hiệu quả, nhất là so với các DN nhà nước. Đối tượng DN nhỏ này thường không ồn ào, không phô trương nhưng sự đóng góp âm thầm cho xã hội rất lớn.
Có lẽ, một số DN trong câu chuyện ở trên cũng thuộc diện “báo động đỏ” trong số gần 49.000 DN bị và sắp phá sản đã nêu. Nếu thực trạng này kéo dài và vẫn nhận được sự thờ ơ của xã hội thì việc tìm con đường khác để tồn tại sẽ là tất yếu. Nhưng sự phá sản của họ sẽ làm mất đi một lượng việc làm đáng kể và trang thiết bị, công cụ sản xuất của họ bị bỏ đi là một lãng phí rất lớn. Nên chăng thử tìm cách giúp họ một lần?
(Bài viết đăng trên Diễn đàn kinh tế VN – VEF ngày 24.10.2011)
Phân làn giao thông: Tầm “thường”, trí “đoản”?
Tác giả: Vệ Đình (*)
…Liệu những người quản lý giao thông nói chung và của TP Hà Nội nói riêng đã thực sự có đủ tầm và trí? Hay là vẫn quanh quẩn với lối suy nghĩ tiểu nông, ngắn ngủn như chính cái đoạn phân làn ấy? Và quan trọng hơn là họ đã thực sự quan tâm đến lợi ích của người dân hay chưa?
Vẫn có gì đó bất ổn
Phân làn giao thông tại các đô thị lớn với mật độ xe cộ dày đặc như Hà Nội và TP.HCM là việc làm cần thiết. Việc phân làn hợp lý, có tính toán kỹ lưỡng, được thực hiện một cách khoa học … sẽ giúp cho giao thông đô thị bớt đi sự lộn xộn, rối rắm. Đồng thời cũng góp phần nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, giảm thiểu tình trạng ùn tắc và nhất là hạn chế được tình trạng tai nạn giao thông đang diễn biến phức tạp như hiện nay.
Dẫu biết là vậy nhưng dường như vẫn có cái gì đó bất ổn trong việc tính toán, thực hiện việc phân làn giao thông hiện nay. Điển hình là chuyện phân làn giao thông đang diễn ra tại Hà Nội.
Theo ông Nguyễn Xuân Tân, Phó Giám đốc Sở GTVT Hà Nội khi trả lời phỏng vấn báo VnExpress ngày 12.10 thì việc thực hiện phân làn ở Hà Nội không cần phải dựa vào hội thảo hay cơ sở khoa học nào mà chỉ dựa vào Luật Giao thông đường bộ là đủ. Vì luật đã quy định cụ thể làn nào ra làn ấy, phương tiện nào đi theo dòng phương tiện ấy.
Tuy nhiên, ông Tân lại cho biết thêm là: “Tính toán của chúng tôi cực kỳ khoa học và cũng đã chạy mô hình. Nếu chạy với tốc độ 30 km một giờ, đủ điều kiện để chuyển làn bình thường, không va chạm; đừng đi với 60-70 cây số bởi như thế là đâm“.
Không biết là khi “không cần dựa vào hội thảo nào mà chỉ dựa vào Luật Giao thông đường bộ” mà lại được “tính toán cực kỳ khoa học” thì cái yếu tố “khoa học” này là gì và do ai tính toán, nghiên cứu, đề xuất? Là của cá nhân ông Nguyễn Xuân Tân hay là của tập thể Sở GTVT Hà Nội?
Nhưng chỉ biết rằng, mặc dù hệ thống biển báo, dải phân cách đã được sơn phản quang, cột biển đã được dán giấy phản quang nhưng chỉ trong một thời gian ngắn thì đã có nhiều va quệt. Kết quả là làm xoay lệch 40 biển; hư hỏng phải thay thế 23 cột nghiêng đổ, gãy phải trồng lại 138 cột biển báo.
![]() |
|
Biển báo phân làn bị ô tô, xe máy đâm nghiêng ngả trên đường Giải Phóng |
Thậm chí, đến ngày 14.10 đã có bốn trường hợp thanh tra giao thông đang thực hiện nhiệm vụ hướng dẫn giao thông bị xe máy quệt vào người và một số vụ tai nạn giao thông phải đi cấp cứu….
Cũng xin nói rõ là trước đây Hà Nội cũng đã từng tổ chức thực hiện việc phân làn giao thông, nhưng kết quả thì không mấy khả quan và nhiều người đã rất bức xúc khi việc phân làn đã được thực hiện một cách quá tùy tiện, quá cảm tính, nay gắn chỗ này, mai gắn chỗ kia hay gắn rồi lại gỡ, gỡ rồi lại gắn vào …
Điều đáng nói là cách làm này cũng đang có dấu hiệu tái diễn.
Đúng như nhận xét của ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND TP.Hà Nội trong cuộc họp rút kinh nghiệm về tổ chức thực hiện phân làn là: “Có tới 138 vụ va chạm, đâm vào cột phân làn. Như vậy chắc chắn là có bất cập về kỹ thuật chứ không phải chỉ do lỗi không quan sát của người tham gia giao thông“.
| Để hình thành nên một văn hóa giao thông đích thực phải là sự gắn kết và giao thoa của rất nhiều yếu tố. Trong đó, phần cốt lõi của hệ thống phải là trí tuệ, sáng tạo của quá trình hình thành nên văn hóa ngành nghề. Được thể hiện đầu tiên qua hình ảnh đẹp của ngành, của nhân viên giao thông.Tầng giữa của hệ thống là tinh thần nhân văn cùng những biểu hiện văn hóa được hình thành trong xã hội và mô hình quản lí giao thông. Điều này được thể hiện qua các tiêu chuẩn thiết kế và qui phạm kĩ thuật cũng như các hình thức dịch vụ, tiêu chuẩn dịch vụ giao thông và các văn bản pháp luật. |
Trong đó, bất cập rõ nhất có thể thấy là dải phân cách quá ngắn, quá thấp, lại được đặt ngay các giao lộ, nơi có mật độ giao thông thường rất cao. Với cách làm này, người tham gia giao thông sẽ bị khuất tầm nhìn và rất bất ngờ khi muốn chuyển hướng. Nếu dải phân cách dài hơn nhiều lần như hiện nay và điểm bắt đầu được đặt nơi thông thoáng, dễ quan sát thì yếu tố bất ngờ sẽ giảm đi đáng kể.
Ngoài ra, khi dư luận phản ánh một số bất cập trong việc bố trí các dải phân cách, cột biển báo dễ gây tai nạn giao thông thì những người có trách nhiệm đã điều chỉnh những bất cập này, mà cụ thể là các vụ va quệt làm cong, gãy trụ biển báo, bằng cách … đặt thêm phía trước trụ biển báo một cục bê tông lớn, được đúc theo mẫu thường thấy ở các dải phân cách trên xa lộ.
Đây quả là một “sáng kiến” hết sức khó hiểu và vô trách nhiệm. Có thể gây nguy hiểm hơn cho người đi đường khi lỡ va quệt vào dải phân cách này như đã từng xảy ra trong mấy ngày qua.
Văn hóa giao thông là tổng hợp nhiều yếu tố
Cũng như nhiều lần trước đây, mỗi khi đề cập đến vấn đề giao thông thì người ta hay nhắc đến ý thức và văn hóa giao thông của người dân. Y như là mọi thành bại của các chính sách giao thông, của thực trạng giao thông hiện nay… tất cả đều do người dân, người tham gia giao thông gây ra. Còn trách nhiệm, tính hợp lý của công tác tổ chức, quản lý của một số người, một số cơ quan chức năng thì dường như …vô can.
Còn nhớ, tại Hội thảo Quốc gia với chủ đề Văn hóa giao thông do Bộ GTVT, Ủy ban ATGT Quốc gia phối hợp cùng Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam tổ chức ngày 8.9.2010 tại Hà Nội, cả 32 tham luận trình bày tại hội thảo đều nhằm vào ý thức, văn hóa giao thông của người dân.
Theo đó, bao nhiêu “tội lỗi” của người dân đã được kể ra cho bằng sạch. Đáng chú ý nhất là một công thức được một vị giáo sư đề xuất, theo đó: Trừng phạt + giáo hóa = Văn hóa giao thông (?!).
Tương tự, khi trả lời báo chí, vị lãnh đạo Sở GTVT Hà Nội đã nhiều lần nhắc đến vấn đề này. Và ông quả quyết: “Trước đây đặt biển trên cao nhưng người dân không thực hiện, nên nay không có cách nào khác là cưỡng bức giao thông thì người dân mới quen”.
Nhưng ít ai biết rằng, để hình thành nên một văn hóa giao thông đích thực phải là sự gắn kết và giao thoa của rất nhiều yếu tố. Trong đó, phần cốt lõi của hệ thống phải là trí tuệ, sáng tạo của quá trình hình thành nên văn hóa ngành nghề. Được thể hiện đầu tiên qua hình ảnh đẹp của ngành, của nhân viên giao thông.
![]() |
|
GS Vũ Khiêu phát biểu tại Hội thảo Văn hóa giao thông |
Tầng giữa của hệ thống là tinh thần nhân văn cùng những biểu hiện văn hóa được hình thành trong xã hội và mô hình quản lí giao thông. Điều này được thể hiện qua các tiêu chuẩn thiết kế và qui phạm kĩ thuật cũng như các hình thức dịch vụ, tiêu chuẩn dịch vụ giao thông và các văn bản pháp luật.
Cuối cùng là sự phô diễn hình ảnh bên ngoài của ngành giao thông, hình thành nên thực thể cơ bản của văn hóa giao thông, là cơ sở vật chất cấu thành văn hóa giao thông.
Tức là, để có một hệ thống và văn hóa giao thông tốt và hợp lòng dân thì nhất định phải cần có trí tuệ. Phải liên tục nghiên cứu sáng tạo và hoàn thiện thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật, văn bản pháp luật … trên nền tảng nhân văn, sau đó mới đem áp dụng ngoài thực tế. Và xin nói rõ là người đóng vai trò chủ động phải là người cung cấp dịch vụ, tức là các cơ quan quản lý Nhà nước. Do đó, cái thực tế giao thông ngày nay không thuộc về trách nhiệm của người dân.
Đến đây thì nhiều người tự hỏi, liệu những người quản lý giao thông nói chung và của TP Hà Nội nói riêng đã thực sự có đủ tầm và trí? Hay là vẫn quanh quẩn với lối suy nghĩ tiểu nông, ngắn ngủn như chính cái đoạn phân làn ấy? Và quan trọng hơn là họ đã thực sự quan tâm đến lợi ích của người dân hay chưa?
Nếu cứ mãi luẩn quẩn với những cách giải quyết tạm bợ như đã nói trên thì còn lâu người dân mới được hưởng một dịch vụ giao thông vừa ý như vốn dĩ họ đáng được như thế.
(Bài viết đăng trên Tuần Việt Nam ngày 21.10.2011)
(*) Vệ Đình: Bút danh khác của tôi
Cái gốc của vấn nạn giao thông: Quy hoạch và dân số
Sự gia tăng dân số đột biến là kết quả của quá trình di cư ồ ạt từ các địa phương khác đến. Có thể nói, áp lực kiếm được việc làm, nhu cầu mưu sinh đã khiến hàng triệu người dân phải chấp nhận tha phương để sống một cuộc sống tạm bợ, chật chội.
LTS: Vấn nạn giao thông đang nhận được rất nhiều ý kiến trao đổi về cái gốc của hiện tượng này. Liên quan đến giao thông đô thị ách tắc, là quy hoạch đô thị và áp lực dân số. Tuần Việt Nam xin đăng tải bài viết dưới đây của tác giả Trần Minh Quân đã “động chạm” đến một trong những nguyên nhân rất cốt lõi. Và dường như nó cần bài toán chiến lược hơn. Đó là quy hoạch tổng thể giữa Hà Nội, TPHCM và các đô thị vệ tinh, một chủ trương đúng, nhưng dường như khó biến thành hiện thực.
Tuần Việt Nam rất mong mỏi nhận được nhiều bài viết của các chuyên gia, nhà quản lý và kiến nghị Nhà nước, chính quyền các địa phương suy nghĩ phối hợp với ngành giao thông, có những giải pháp chiến lược hơn, vừa tháo gỡ ách tắc giao thông đô thị, vừa là nâng cao và phát triển kinh tế- xã hội của chính địa phương mình.
Không “giải” được thì…cấm?
Giảm ùn tắc giao thông từ lâu đã là một bài toán nan giải tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM. Đã có rất nhiều nghiên cứu, hội thảo, giải pháp, góp ý … được đưa ra nhưng kết quả vẫn là một con số 0 tròn trĩnh, thậm chí khi một số giải pháp được áp dụng thì thực trạng ùn tắc lại càng nghiêm trọng hơn.
Trong mấy ngày qua, vấn đề ùn tắc giao thông lại một lần nữa nhận được sự quan tâm của dư luận khi Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đề xuất một số giải pháp, nhất là một giải pháp được xem là truyền thống và đã từng gây nhiều tranh cãi: Cấm!
Xin nói ngay rằng “cấm” không phải là một giải pháp đúng nghĩa mà là dấu hiệu của sự bất lực.
Khi không quản lý nổi, không giải quyết được thì “cấm” được xem là đơn giản, hiệu quả và có vẻ tối ưu nhất. Nhưng, có một sự thật là người dân TP.HCM hay Hà Nội không ai dại gì mà xách xe máy chạy lòng vòng khi không có việc gì quan trọng trong giờ cao điểm để được “thưởng thức” món khói bụi và tắc đường.
![]() |
|
Phải nhanh chóng thay đổi hoàn toàn chất lượng và hình ảnh của phương tiện này |
Khi có nhu cầu đi lại thực sự thì dù có cấm phương tiện này người ta cũng tìm cho bằng được phương tiện khác để di chuyển. Sẽ thật là khủng khiếp nếu tất cả những ai bị “cấm” đi bằng xe máy lại chọn phương tiện di chuyển là ô tô hay taxi.
Khi đó, giải pháp cấm xe máy sẽ có tác dụng ngược lại và chẳng khác nào “đổ thêm dầu vào lửa”, góp phần làm cho tắc đường càng thêm phần trầm trọng hơn.
Trước khi đề ra các giải pháp chống ùn tắc giao thông, Bộ trưởng Đinh La Thăng đã xác định nguyên nhân chính gây nên tình trạng này là các phương tiện cá nhân. Phát hiện này không sai nhưng nó chỉ đơn giản là hệ quả của một vài nguyên nhân chính khác. Tức là chỉ thấy được phần ngọn chứ chưa phải phần gốc. Cái gốc của vấn nạn ùn tắc giao thông phải là quy hoạch và dân số.
Quy hoạch: Cảnh báo không lấn át được lợi ích?
Cả hai đô thị lớn Hà Nội và TP.HCM được xây dựng chủ yếu từ thời Pháp thuộc và ban đầu chỉ đáp ứng cho khoảng vài trăm nghìn người sinh sống tập trung ở khu vực trung tâm thành phố. Phần lớn các cơ sở hạ tầng ở đây đều đã xuống cấp và quá tải.
Có một điều dễ nhận thấy là mặc dù có đầy đủ các cơ quan làm nhiệm vụ quy hoạch, nhưng dường như các cơ quan, đơn vị này chưa làm đúng chức năng, nhiệm vụ của mình.
Lâu nay, khi nhắc đến quy hoạch thì mọi người chỉ nhìn thấy toàn là quy hoạch khu dân cư, đất đa … mà nổi bật là vô số các quy hoạch đang treo lơ lửng hay thay đổi xoành xoạch, chứ người dân chưa cảm nhận được mức độ hiệu quả của quy hoạch giao thông đô thị.
Mặc dù đã có rất nhiều cảnh báo về mức độ quá tải của cơ sở hạ tầng tại khu vực trung tâm thành phố nhưng tất cả dường như đều bị bỏ ngoài tai. Có lẽ những cảnh báo này chưa đủ mạnh để có thể lấn át lợi ích của các nhà đầu tư hay các nhóm lợi ích khác. Kết quả là các công trình, các tòa nhà cao tầng, … với hàng ngàn lượt người lui tới hàng ngày vẫn lù lù mọc lên.
Dĩ nhiên, lợi ích thu được từ các công trình này thì vô tư chạy vào túi của một vài nhà đầu tư còn trách nhiệm đối với xã hội, với cơ sở hạ tầng xung quanh khu vực đó đang bị họ tận thu theo kiểu “cưỡng hiếp” thì không thấy ai nhắc đến.
Trong quá trình phát triển của một thành phố thì việc xây dựng các tòa nhà cao tầng là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, sẽ không cần thiết nếu chỉ để chạy theo thành tích: Cao bao nhiêu, cao bằng ai hay ở đâu có thì mình cũng phải có.
Tại các nước phát triển, mỗi một tòa nhà cao tầng trước khi cho xây dựng đều đã được tính toán kỹ lưỡng lưu lượng người qua lại cũng như các giải pháp cho vấn đề giao thông. Các công trình cao tầng chỉ được xây dựng khi cơ sở hạ tầng và các phương tiện giao thông được đảm bảo đủ khả năng đáp ứng.
![]() |
|
Việc xây dựng các tòa nhà cao tầng là xu hướng tất yếu |
Mục tiêu của quy hoạch đô thị, thay vì phải kéo giãn mật độ dân số ra ngoại thành và phân bổ hợp lý cho các quận huyện khác để giảm tải cho khu vực trung tâm vốn quá chật hẹp, thì chúng ta đang làm ngược lại. Rõ ràng, công tác quy hoạch đang khiến cho thực trạng ùn tắc giao thông ngày càng đi vào thế bế tắc và khó có khả năng giải quyết trong một thời gian ngắn.
Áp lực dân số và chuyện người nông dân ly hương
Không khó để nhận ra mức độ gia tăng dân số tại các thành phố lớn diễn ra quá nhanh. Chỉ chừng hơn 10 năm về trước, ùn tắc giao thông vẫn được xem là hiện tượng cá biệt. Nhiều người mới đến TP.HCM lần đầu đều không hiểu nổi người ở đâu mà nhiều đến vậy. Và hiện nay, nguy cơ tắc đường luôn luôn thường trực ở bất kỳ đâu và bất cứ lúc nào.
Sự gia tăng dân số đột biến là kết quả của quá trình di cư ồ ạt từ các địa phương khác đến. Có thể nói, áp lực kiếm được việc làm, nhu cầu mưu sinh đã khiến hàng triệu người dân phải chấp nhận tha phương để sống một cuộc sống tạm bợ, chật chội … tại nơi được gọi là nhà trọ, đôi khi còn tệ hơn thế.
Ngoài ra, các đô thị lớn như TP.HCM và Hà Nội cũng là nơi có một lượng khách vãng lai như đi công tác, học hành, khám chữa bệnh … rất lớn.
Với cơ sở hạ tầng đã quá tải đến nỗi không thể đáp ứng được mật độ dân số cao như hiện nay thì việc giảm thiểu số lượng người nhập cư là điều cần được xem xét. Nhưng bằng cách nào?
Một điều dễ nhận thấy nhất là càng ngày người nông dân càng không thể sống được trên chính mảnh đất của mình. Sau thời kỳ đổi mới, nhiều mảnh đất dạng “bờ xôi ruộng mật” đang dần thay thế bằng các dự án khác như nhà máy, sân golf … Vì áp lực có việc làm, có cuộc sống ấm no, người dân đã chọn cách tha phương.
Do đó việc tạo việc làm, tạo niềm tin cho người dân cảm thấy an tâm và “sống được” với quê hương của mình là vô cùng cần thiết nhằm cân bằng quá trình phân bổ dân số.
Ngoài ra cần đầu tư, nâng cấp các cơ sở hạ tầng, cải thiện chất lượng dịch vụ giáo dục, y tế tại các khu vực nông thôn để người dân ở các khu vực này được hưởng các dịch vụ tốt nhất có thể.
| Sự gia tăng dân số đột biến là kết quả của quá trình di cư ồ ạt từ các địa phương khác đến. Có thể nói, áp lực kiếm được việc làm, nhu cầu mưu sinh đã khiến hàng triệu người dân phải chấp nhận tha phương để sống một cuộc sống tạm bợ, chật chội … tại nơi được gọi là nhà trọ, đôi khi còn tệ hơn thế.
Ngoài ra, các đô thị lớn như TP.HCM và Hà Nội cũng là nơi có một lượng khách vãng lai như đi công tác, học hành, khám chữa bệnh … rất lớn. Với cơ sở hạ tầng đã quá tải đến nỗi không thể đáp ứng được mật độ dân số cao như hiện nay thì việc giảm thiểu số lượng người nhập cư là điều cần được xem xét. Nhưng bằng cách nào? |
Chuyện ùn tắc giao thông đã được nhắc đến rất lâu và tốn không ít giấy mực của báo chí, trí lực của xã hội … nhưng xem ra tư duy về vấn đề này vẫn không hề thay đổi.
Cách đây vài tháng, tại TP.HCM cũng đã từng đề xuất phương án cấm xe vào trung tâm thành phố theo biển số chẵn, lẻ. Phương án này đã nhận được sự phản ứng dữ dội từ dư luận và người dân và cuối cùng biện pháp “cấm” này đã không được thực hiện. Nhắc lại việc này để thấy rằng phương án “cấm” là không khả thi và nó đi ngược lại xu hướng phát triển.
Muốn người dân từ bỏ thói quen sử dụng phương tiện cá nhân và chấp nhận sử dụng phương tiện công cộng thì không có cách nào khác là nhanh chóng thay đổi hoàn toàn chất lượng và hình ảnh của phương tiện này.
Còn về lâu dài thì phải rà soát lại các quy hoạch phát triển giao thông đô thị, đầu tư cơ sở hạ tầng và dần đưa các phương tiện vận chuyển hiện đại vào thay thế. Ngoài ra, những người làm công tác quản lý, cung cấp dịch vụ giao thông cũng cần thay đổi tư duy ban phát mà cần biết rằng, mối quan hệ này là mối quan hệ cộng hưởng và phục vụ, đôi bên cùng có lợi.
Khi cảm nhận được đầy đủ sự thuận tiện, tiện nghi, chất lượng … thì khỏi cần “cấm” người dân cũng tự tìm đến và vui vẻ sử dụng.
(Bài viết đăng trên Tuần Việt Nam, ngày 19.10.2011)





