Lưu trữ

Archive for the ‘Tin tức’ Category

ĐIÊN ĐẦU VÌ CHUYỆN LÃI/LỖ XĂNG DẦU

Tháng Mười Hai 2, 2011 5 comments

Trong phiên chất vấn tại Quốc hội vào ngày 24.11.2011, Bộ trưởng Bộ tài chính Vương Đình Huệ đã dẫn ra rất nhiều con số chi tiết về giá than, giá điện, giá xăng dầu… Trong đó có số liệu về lỗ/lãi của Petrolimex.

Cụ thể, năm 2008, Petrolimex đã lãi 913,7 tỷ đồng, trong đó kinh doanh xăng dầu lãi 642 tỷ đồng, năm 2009, lãi 3.217 tỷ đồng, trong đó kinh doanh xăng dầu lãi 2.660 tỷ đồng, năm 2010, doanh nghiệp này lãi 314 tỷ, trong đó xăng dầu lỗ 172 tỷ đồng, nhưng các ngành khác lại lãi gần 200(?) tỷ đồng. “Cho nên, tính tổng lại thì xăng dầu vẫn lãi, và trong ba năm thì Petrolimex đều có lãi cả”, Bộ trưởng Huệ khẳng định.

Nhưng thật bất ngờ khi ngay sau đó, Bộ trưởng Bộ công thương Vũ Huy Hoàng lại đưa ra một thông tin khá khác biệt. Cụ  thể, năm 2008 Petrolimex lãi hơn 913 tỷ đồng, năm 2009 lãi 2.880 tỷ đồng, năm 2010 lãi 81 tỷ đồng, và năm 2011 dự kiến lãi cả năm khoảng 598 tỷ đồng. “Trong ba năm từ 2008 – 2010, tính về tổng thể, doanh nghiệp này có lãi, nhưng riêng kinh doanh xăng dầu bị lỗ. Tuy nhiên do doanh nghiệp này không giải thích cặn kẽ, chi tiết nên đã khiến dư luận hiểu nhầm rằng kinh doanh xăng dầu có lãi”. Bộ trưởng Hoàng khẳng định lại.

Ngay sau đó, một thông tin được xem là “cải chính” lại khẳng định “lãi ba năm liên tiếp” của Bộ trưởng Vương Đình Huệ tại Quốc hội bằng công văn số 16098/BTC-VP được đăng tải vào ngày 25.11.2011 trên website Bộ Tài chính.

Hình chụp công văn số 16098/BTC-VP được đăng tải trên website Bộ Tài chính

Công văn này cho biết, theo báo cáo kết quả kiểm toán của Deloitte thì kết quả kinh doanh phản ánh trên báo cáo tài chính của Petrolimex qua các năm 2008, 2009, 2010 đều có lãi, nguyên văn như sau:

+ Năm 2008: kinh doanh xăng dầu lãi + 642 tỷ đồng; các hoạt động khác lãi + 376 tỷ đồng; tổng hợp chung lãi + 1.018 tỷ đồng;

+ Năm 2009: kinh doanh xăng dầu lãi + 2.660 tỷ đồng; các hoạt động khác lãi + 557 tỷ đồng; tổng hợp chung lãi + 3.217 tỷ đồng;

+Năm 2010: kinh doanh xăng dầu lỗ – 172 tỷ đồng; các hoạt động khác lãi + 486 tỷ đồng; tổng hợp chung lãi + 81 tỷ đồng;

+ Về tình hình sản xuất kinh doanh năm 2011 thì theo báo cáo quyết toán hợp nhất 6 tháng đầu năm 2011 của Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (gồm văn phòng Tổng công ty và 42 công ty công ty thành viên) kinh doanh xăng dầu lỗ 1.840 tỷ đồng.

Thử nhìn lại con số của năm 2010, Bộ trưởng Vương Đình Huệ đưa ra tại Quốc hội là lãi 314 tỉ đồng, trong khi con số của Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng lại là lãi 81 tỉ đồng. Con số 81 tỉ đồng này lại trùng khớp với số đưa ra trong công văn “cải chính” của Bộ tài chính (số liệu này vẫn còn trên website đến 22h, ngày 02.12.2011). Trong khi nếu theo như cách tính của các năm 2008, 2009 (theo công văn) thì con số lãi đúng ra phải là 314 tỉ đồng (486 – 172 = 314). Hai con số này lệch nhau đến 233 tỉ đồng.

Ngoài ra, nếu so sánh giữa các con số lỗ/lãi được đưa ra từ hai bộ Tài chính và Công thương cũng thấy chênh lệch nhau rất lớn. Đơn cử, vào năm 2009, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng đưa ra con số lãi là 2.880 tỉ đồng, trong khi trong công văn “cải chính”, con số Bộ Tài chính đưa ra là 3.217 tỉ đồng, chênh nhau 337 tỉ đồng.

Trước đó, vào ngày 20.9.2011, tại cuộc hội thảo về cơ chế kinh doanh xăng dầu, do Bộ Tài chính tổ chức tại Hà Nội, lãnh đạo Petrolimex cho biết là từ năm 2006 đến nay, doanh nghiệp này đã “dồn dập” lỗ mỗi năm hàng trăm tỷ đồng trong hoạt động kinh doanh xăng dầu, trong đó đỉnh điểm là năm 2008 lỗ đến 10.700 tỷ đồng. Riêng năm 2011, tính đến cuối tháng 8, doanh nghiệp này đã lỗ tới 1.800 tỷ đồng, ước hết tháng 9 lỗ khoảng 2.000 tỷ đồng.

Nếu so sánh con số lỗ “khủng” trong kinh doanh xăng dầu của năm 2008 do vị lãnh đạo Petrolimex này cung cấp với con số vừa được Bộ tài chính công bố (lãi 642 tỉ đồng) thì độ chênh nhau vô cùng lớn, lên đến 11.342 tỉ đồng. Đó là chưa kể đến các sai lệnh nhỏ khác liên quan đến con số lỗ khoảng 1.800 tỉ đồng khi mỗi nơi đưa ra theo nhiều mốc thời gian khác nhau, lúc thì 6 tháng đầu năm hay 8, 9 tháng đầu năm.

Tạm liệt kê một số con số như biết “nhảy múa” kia cũng đủ khiến cho nhiều người sửng sốt, thậm chí kinh ngạc. Quả thật là không thể hiểu nổi khi chỉ với riêng Potrolimex, các con số lãi/lỗ sau khi được tính toán bằng các phép tính cộng trừ đơn giản mà lại khiến cho người đọc như đi lạc vào một mê hồn trận, không có lối thoát.

Dư luận đang rất quan tâm về tính hiệu quả của các DNNN khi các DN này đang sở hữu và kinh doanh trên một lượng vốn rất lớn của nhà nước. Chỉ riêng một Petrolimex mà đã tù mù, rối rắm như thế thì thử hỏi với các ông lớn lại kinh doanh đa ngành, đa nghề khác như PVN, EVN hay Vinashin thì sẽ như thế nào?

Đi kèm với những phát triển vượt bậc về kinh tế, về khoa học kỹ thuật cũng như các công cụ tính toán, cứ ngỡ rằng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán đã được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế nhưng nhìn lại các con số được đưa ra từ phía lãnh đạo Petrolimex, đến lãnh đạo các Bộ Công thương, Bộ Tài chính thì mới biết dường như cách tính toán đang được mỗi nơi áp dụng mỗi kiểu và điều này sẽ khiến cho nhiều người cảm thấy có gì đó bất minh.

Đáng nói là sau những con số này được đưa ra công khai, vẫn chưa thấy một cơ quan có trách nhiệm như Kiểm toán nhà nước hay Ủy ban kiểm tra tài chính của Quốc hội lên tiếng, ít nhất là chỉ để làm rõ và giải thích cho dư luận tỏ tường.

Quả thật, chuyện giá cả, lãi/lỗ của chỉ riêng xăng dầu mà đã khiến nhiều người cảm thấy điên cái đầu và hoa cả mắt. Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ biết cái “giải pháp của mọi giải pháp” như Bộ trưởng Vương Đình Huệ từng nói tại Quốc hội vừa qua còn lâu mới thực hiện được.

  • TRẦN MINH QUÂN

Tàu cá Quảng Bình được thả có phải do tinh thần nhân đạo từ phía Trung Quốc?

Tháng Tám 27, 2011 7 comments

Lần lượt các báo đưa tin tàu đánh cá QB1825-TS của anh Nguyễn Văn Thạnh (Quảng Bình) đã trở về an toàn. Về được đến nhà và an toàn tính mạng sau khi bị phía Trung Quốc bắt giữ quả là một tin vui. Xem ra đây cũng là trường hợp hy hữu khi không bị tra tấn, đánh đập như thường lệ đối với nhiều ngư dân bị Trung Quốc bắt trước đây.

Anh Thạnh trở về sau khi bị Trung Quốc bắt

Được biết, tàu QB1825-TS, do anh Nguyễn Văn Thạnh làm chủ tàu bị bắt vào chiều ngày 8.8, bốn thuyền viên khác bị bắt cùng anh Thạnh gồm Nguyễn Văn Tiến, Lê Văn Hiến, Hồ Văn Tịnh, Nguyễn Văn Hạnh. Đến ngày 18.8, bà Nguyễn Thị Hằng, vợ ông Thạnh nhận điện thoại từ Trung Quốc cho biết phải nộp số tiền chuộc 6.250 USD mới thả tàu và năm người về.

Trong các bản tin về tàu cá của anh Thạnh về đến đất liền an toàn, các báo vào ngày hôm qua và hôm nay đều không cho biết gia đình có nộp tiền phạt hay không? Và phía Trung Quốc tự nguyện thả hay là nhận được tiền chuộc rồi mới thả?

Trên báo Thanh Niên ngày 27.08.2011 có đoạn “Sau khi sự việc xảy ra, cơ quan chức năng VN đã đề nghị phía Trung Quốc trả tự do cho các ngư dân và tàu cá.” Còn trên báo Dân Trí thì viết chi tiết hơn “Sau khi nhận thông tin tàu đánh cá mang số hiệu QB-1825-TS của tỉnh Quảng Bình bị bắt giữ, Cục lãnh sự Bộ Ngoại giao Việt Nam đã có công điện gửi Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam và Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc để thông báo và đề nghị hai cơ quan này báo cáo với Bộ Ngoại giao và các cơ quan chức năng của phía bạn xem xét, xử lý sự việc đúng theo quy định và tinh thần nhân đạo, phù hợp với quan hệ hai nước. Sau nhiều nỗ lực của hai bên, đến 15h30 ngày 24/8, tàu QB-1825-TS cùng 5 thuyền viên đã được thả tự do. Lúc 18h ngày hôm qua, 25/8, tàu đã về bến cảng Nhật Lệ, TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình an toàn.

Khi đọc những mẫu tin như thế này, dù không trực tiếp nói ra lý do nào để phía Trung Quốc thả người nhưng người đọc có thể hiểu rằng đây chính là kết quả của quá trình tích cực đàm phán, can thiệp của Bộ Ngoại Giao.

Trong khi đó, theo blog Cu làng cát thì “Bà Nguyễn Thị Hằng, vợ của thuyền trưởng Nguyễn Văn Thạnh, chủ tàu QB 1825 TS (Mỹ Cảnh, Bảo Ninh, Đồng Hới) cho biết gia đình đã phải vay mượn 6.250 USD chuyển sang Trung Quốc họ mới thả tàu và người. Nhưng số tiền không đi theo đường chính ngạch từ Sở ngoại vụ hay cơ quan chức năng nào mà có qua môi giới. Và bà Hằng không cho biết người giúp bà chuyển tiền sang Trung Quốc là ai. Bà Hằng cho biết sáng 24.8.2011 chuyển tiền qua “nhân mối” và anh Thạnh được thả vào 15 giờ chiều cùng ngày.”

Chưa biết thông tin trên blog Cu làng cát có thực sự chính xác hay không và cần được kiểm chứng thêm. Tuy nhiên, nếu đúng thì tại sao khi đưa tin, báo chí không hề nhắc đến chuyện đóng tiền chuộc. Nếu gia đình anh Nguyễn Văn Thạnh đóng đủ số tiền theo yêu cầu từ phía Trung Quốc thì rõ ràng việc thả người chỉ đơn giản là vì tiền, lúc đó chuyện “giao thiệp” giữa hai bên đã không hề có tác dụng.

Ngoài ra, trong những trường hợp như thế này, nếu để ngư dân tự đi nộp tiền theo đường “môi giới” thì rất nguy hiểm, có khi “tiền thì mất nhưng tật vẫn mang”. Rõ ràng, nộp tiền chuộc đã là vô lý mà nộp theo kiểu lén lút như thế này thì là càng thêm vô lý.

Khi đọc tin trên các báo, nhiều người sẽ rất dễ lầm tưởng rằng lần này phía Trung Quốc đã cư xử với ngư dân Việt Nam nhân đạo, văn minh hơn trước đây. Nhưng sự thật phía Trung Quốc có nhân đạo như tin của các báo đã đưa, tức là không hề nhắc đến chuyện có phải “nộp phạt” hay không, thì lại rất khó tin. Thú thật, khó có thể tin vào lòng tốt của anh “bạn” vốn được xem là xấu tính và cách đưa tin của các báo cũng rất khó hiểu khi không hề nhắc đến chi tiết quan trọng nhất là ‘tiền chuộc’?

  • Trần Minh Quân

Lao động Trung Quốc không phép: Xem thường pháp luật hay quản lý không nghiêm?

Tháng Tám 22, 2011 5 comments

Khi những băn khoăn về thực trạng thu mua hàng nông sản Việt Nam vừa tạm lắng xuống thì cũng là lúc nỗi lo về công ăn việc làm và bất ổn xã hội xuất hiện. Điều đáng nói là những băn khoăn, lo lắng này đều liên quan đến một tác nhân chính: Trung Quốc.

Một góc công trình nhà máy đạm Cà Mau có rất nhiều lao động Trung Quốc

Nhiều doanh nghiệp trong nước đang gặp khó khăn, người lao động đang có nguy cơ mất việc làm trong lúc giá cả tiêu dùng tăng cao. Có thể nói những khó khăn chồng chất đang treo lơ lững trên đầu người làm công ăn lương. Vậy mà tại rất nhiều dự án đầu tư của nhà nước do các nhà thầu nước ngoài thực hiện, số công ăn việc làm lại rơi vào tay lao động người nước ngoài, kể cả những công việc đơn giản nhất. Đó là bức tranh về lao động và việc làm tại Việt Nam hiện nay.

Trong khi chính quyền tại các nước khác như Malaysia, Hàn Quốc, Đài Loan, … đang xử lý mạnh tay với các trường hợp lao động nước ngoài bất hợp pháp, thậm chí mới đây, Ủy ban lao động Đài Loan còn treo mức thưởng cao cho người tố giác lao động bất hợp pháp thì tại Việt Nam tình trạng này đang diễn biến ngày càng phức tạp.

Theo thông tin từ báo chí thì trong thời gian qua tại hầu hết các công trình do các nhà thầu nước ngoài thực hiện, trong đó phần lớn là nhà thầu đến từ Trung Quốc đang có rất nhiều lao động phổ thông mang quốc tịch nước ngoài làm việc. Điều đáng nói là số lao động không phép đang chiếm tỉ lệ rất cao ở hầu hết các dự án và xuất hiện tại nhiều tỉnh thành khác nhau.

Mặc dù pháp luật đã quy định rõ (ngay khi mời thầu) các nhà thầu nước ngoài chỉ được phép mang theo lao động, kỹ sư, chuyên gia quản lý có trình độ cao, … mà lao động trong nước không thể đáp ứng được và mọi vị trí làm việc khác đều phải ưu tiên cho lao động Việt Nam nhưng dường như các nhà thầu, nhất là nhà thầu Trung Quốc, đã phớt lờ mọi quy định của pháp luật Việt Nam.

Ngay cả quy định về việc phải đăng ký lao động người nước ngoài đang làm việc tại dự án cho chính quyền địa phương cũng bị các nhà thầu này gạt sang một bên. Theo phản ánh của báo chí thì rất nhiều lao động người Trung Quốc đã nhập cảnh bằng đường du lịch và ở lại làm việc chui tại các công trình. Lợi dụng khe hở của pháp luật là những lao động làm việc dưới 3 tháng thì không cần phải xin phép, hàng ngàn lao động Trung Quốc đã ngang nhiên đứng ngoài sự kiểm soát của pháp luật Việt Nam.

Về phía Việt Nam, mặc dù đã có đầu đủ các quy định của pháp luật nhưng trách nhiệm quản lý và xử lý còn chồng chéo giữa sở Lao động – Thương binh – Xã hội và phía công an. Ngoài ra, để tồn tại tình trạng trên trong một thời gian dài chứng tỏ các cơ quan chức năng tại các địa phương đã chưa dành sự quan tâm đúng mức cho vấn đề này và thể hiện sự thiếu nghiêm minh trong thực thi pháp luật.

Đầu tư của nhà nước là để phát triển kinh tế xã hội và tạo công ăn việc làm cho người dân. Trong khi hiệu quả kinh tế từ các dự án có sự tham gia của các nhà thầu Trung Quốc trong thời gian qua chưa có gì rõ nét, nếu không muốn nói là đã gây rất nhiều khó khăn, phiền toái do công nghệ, máy móc lạc hậu lại thường hay hỏng hóc, thời gian thực hiện quá dài, gây tốn kém, … thì ngay cả mục đích thứ hai là tạo công ăn việc làm cho người dân cũng không đạt được. Thật đáng buồn khi người lao động Việt Nam lại bị ra rìa ngay trên chính quê hương của mình.

Trước áp lực về nguồn nguyên liệu và công ăn việc làm quá lớn từ trong nước. Trong vài chục năm trở lại đây, người Trung Quốc đã đẩy mạnh việc xuất khẩu lao động, kể cả xuất khẩu nông dân ra nước ngoài. Khi làn sóng di cư người Trung Quốc đến Châu phi có xu hướng giảm xuống thì cũng là lúc một làn sóng khác đang hình thành. Đó là xuất khẩu lao động theo các nhà thầu. Trong đó Việt Nam là một trong những thị trường chính với sự xuất hiện ngày càng nhiều nhà thầu Trung Quốc tại hầu hết các công trình, nhất là các gói thầu EPC tại Việt Nam.

Khi những băn khoăn về thực trạng thu mua hàng nông sản Việt Nam vừa tạm lắng xuống thì cũng là lúc nỗi lo về công ăn việc làm và bất ổn xã hội xuất hiện. Điều đáng nói là những băn khoăn, lo lắng này đều liên quan đến một tác nhân chính: Trung Quốc.

Cũng như những lần trước, thương nhân Trung Quốc được tự do đến tận ruộng vườn thu gom nông sản của nông dân để xuất khẩu theo đường tiểu ngạch, thì lần này, người lao động Trung Quốc lại vẫn ngang nhiên đứng ngoài vòng pháp luật của Việt Nam.

Nhiều người sẽ tự hỏi rằng liệu người lao động, các nhà thầu đến từ Trung Quốc đã quá xem thường pháp luật Việt Nam hay các cơ quan quản lý nhà nước của các địa phương đã không làm tròn trách nhiệm? Hay là vì cả hai nguyên nhân trên?

Thực trạng này đã không dừng lại ở một dự án nào cá biệt mà nó đã phổ biến rộng khắp trên cả nước. Nơi nào có nhà thầu Trung Quốc thì hầu như nơi đó có vi phạm pháp luật về quản lý lao động xảy ra. Đến đây thì đã rõ, chúng ta đã quá dễ dãi trong việc quản lý lao động nước ngoài.

Để lý giải được hiện tượng này, thiết nghĩ trước tiên chúng ta nên lý giải tại sao có tình trạng hơn 90% các gói thầu EPC rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc? Đây là việc không hề đơn giản mà rất cần nhìn nhận một cách nghiêm túc, sự ra tay mạnh mẽ của các cơ quan chức năng và quan trọng hơn là phải biết nghĩ đến những lợi ích lâu dài trước khi những hậu quả tệ hại có thể xảy ra.

  • TRẦN MINH QUÂN

Vụ TQ gom hàng: Đâu là nguyên nhân đích thực?

Tháng Tám 15, 2011 4 comments

Việc thương nhân Trung quốc thu gom nông sản Việt Nam đã được nói nhiều trong thời gian qua nhưng xem ra vẫn chưa tìm ra được lời giải. Hiện nay, sự việc này vẫn đang gây nhiều tranh cãi và nhận được sự giải thích khác nhau. Thật buồn cười khi một số người cố tình giải thích thực trạng trên là do thị trường bán lẻ.

Có thể nói ngay rằng nguyên nhân từ việc thương nhân Trung Quốc gom hàng nông sản Việt Nam trong thời gian qua không phải do thị trường bán lẻ và càng không phải từ những người nông dân mà là do nhiều nguyên nhân khác.

Ai cũng biết rằng để sản phẩm của người nông dân đến được tay người tiêu dùng thì phải qua rất nhiều khâu trung gian, trong đó thương lái và các doanh nghiệp thu mua nông sản đang nắm quyền chi phối. Một người nông dân không thể trực tiếp bán sản phẩm của mình đến tận nơi phân phối như chợ, siêu thị. Ngược lại, hệ thống siêu thị bán lẻ cũng không đủ điều kiện để có thể đến tận nhà, tận vườn để thu gom hàng về bán.

Tuy hệ thống bán lẻ hiện đại như các siêu thị hiện nay tại Việt Nam chưa đạt được những điều kiện và sự tiện lợi cần thiết như các nước khác trong khu vực nhưng cũng đã và đang có nhiều bước tiến rõ rệt về số lượng cũng như chất lượng. Điều này thể hiện rõ từ việc ngày càng có nhiều siêu thị mọc lên và có rất nhiều nhà đầu tư từ nước ngoài nhảy vào lĩnh vực này. Siêu thị đang dần thay thế các trung tâm mua sắm truyền thống như chợ và cũng đang dần dần thay đổi thói quen mua sắm của người Việt, nhất là ở các thành phố lớn.

Một đặc điểm khác nữa cũng cần nhắc đến là hiện nay các gian hàng bình ổn giá xuất hiện tại các siêu thị đều có sự can thiệp và vận động của các cơ quan nhà nước. Và vì yếu tố lợi nhuận cho nên việc làm này cũng ít nhiều mang tính tượng trưng là chính. Bằng chứng là các gian hàng bình ổn giá này không phổ biến và có lượng hàng hóa hạn chế, không đáp ứng đủ nhu cầu mua sắm của người dân.

Sau những diển biến của thị trường nông sản trong nước trong thời gian qua có thể nhận ra một số nguyên nhân chính sau đây:

Thứ nhất: Nông dân không có sự chọn lựa cho đầu ra của sản phẩm

Nông dân bị các thương lái o ép trong một thời gian dài. Điều này rất dễ nhận thấy khi người nông dân hầu như ít có sự chọn lựa cho đầu ra cho sản phẩm của mình. Thị trường đầu ra và giá cả chủ yếu do các thương lái quyết định. Người nông dân không được hưởng lợi xứng đáng với công sức do mình bỏ ra và một bộ phận không nhỏ nông dân đã cảm thấy mình không thể sống nổi trên chính mãnh đất của mình. Hiện tượng rất nhiều nông dân đã phải bỏ ruộng vườn di cư đến các thành phố lớn để tìm kế sinh nhai trong thời gian qua là một minh chứng rõ ràng nhất. Cho đến khi xuất hiện các thương nhân Trung Quốc đến tận vườn để thu mua nông sản với giá cao hơn, ít bị hạch sách về chất lượng hơn nên người nông dân quay sang bắt tay với người Trung Quốc là điều dễ hiểu.

Thứ hai: Thiếu quy hoạch và gắn kết giữa nông dân và doanh nghiệp

Trong một thời gian dài người nông dân hầu như không được định hướng từ các cơ quan nhà nước và cam kết bao tiêu sản phẩm của các doanh nghiệp. Điều này có thể thấy rõ qua việc người nông dân luôn phải chạy theo nhu cầu của thị trường, đôi khi chỉ là nhu cầu ảo do một vài tin đồn thất thiệt mà đa phần nhu cầu ảo này có xuất xứ từ thị trường Trung Quốc.

Hiện tượng phá bỏ cây trồng, vật nuôi này để nuôi trồng loại khác vẫn thường xuyên diễn ra. Khi thất bại, người nông dân vẫn cô độc và tự chịu trách nhiệm mà không nhận được sự hỗ trợ, can thiệp nào từ phía các doanh nghiệp và cơ quan chức năng.

Ngoài ra, trong khi từ trước đến nay các doanh nghiệp và thương lái trong nước vẫn o ép nông dân thì sau khi xuất hiện ồ ạt thương nhân Trung Quốc thì họ chỉ biết la toáng lên và kêu cứu từ các hiệp hội hay cơ quan nhà nước. Đứng trước thực trạng nguồn nguyên liệu trong nước đang bị thương nhân Trung Quốc vơ vét dẫn đến nguồn nguyên liệu đầu vào bị thiếu hụt nghiêm trọng nhưng vẫn có quá ít doanh nghiệp biết bắt tay với người nông dân như hỗ trợ con giống, kỹ thuật nuôi trồng và bao tiêu sản phẩm. Đây thực sự là hành vi thiếu nghiêm túc và không có tôn trọng cần thiết đến quyền lợi của người nông dân.

Thứ ba: Quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu quá lỏng lẻo

Trong đợt thu gom nông sản vừa qua của các thương nhân Trung Quốc, nhiều người đã phát hiện ra rằng đa số lượng hàng hóa này được xuất theo đường tiểu ngạch. Nhà nước đã thất thu một khoảng đáng kể về thuế. Một số doanh nghiệp trong nước giải thích do không phải chịu hay chịu một giá trị thuế rất ít nên các thương nhân Trung Quốc đã có nhiều lợi thế về giá, dẫn đến việc các doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh được trong quá trình thu gom nông sản.

Ngoài ra, mặc dù đã có nhiều quy định hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô nhưng trong thời gian qua, không riêng gì các mặt hàng nông sản mà với rất nhiều sản phẩm khác hiện tượng này vẫn thường xuyên xảy ra. Bên cạnh đó, các sản phẩm cùng loại với chất lượng kém hơn sản phẩm trong nước vẫn ồ ạt được nhập về, thậm chí có một số sản phẩm đã nhái các thương hiệu nổi tiếng của Việt Nam nhưng vẫn được bày bán công khai mà chưa thấy có phương án xử lý thích đáng.

Thứ tư: Hạn chế của các doanh nghiệp Việt Nam

Cách đây không lâu, trên báo SGTT có đăng tải một thông tin đã làm nhiều người Việt Nam sửng sốt. Đó là trong khi giá vải thiều tại Việt Nam được các thương lái Trung Quốc thu gom với giá khoảng 15.000 đồng/kg thì giá bán các sản phẩm này tại thị trường Trung Quốc lên đến 300.000 đồng/kg, gấp 20 lần giá mua.

Điều này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam còn quá mơ hồ hay thiếu thông tin về thị trường xuất khẩu. Có lẽ không riêng gì vải thiều mà với rất nhiều sản phẩm khác cũng trong tình trạng tương tự. Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam mãi loay hoay với thị trường trong nước hay các thị trường xuất khẩu xa xôi khác thì một cơ hội rất gần như tại thị trường Trung Quốc thì ít được ai chú ý đến.

Tất nhiên sẽ còn rất nhiều nguyên nhân khác để giải thích tại sao nông sản Việt Nam lại ồ ạt chảy sang Trung Quốc và các doanh nghiệp Việt Nam lại thua ngay trên sân nhà cần được các cơ quan chức năng và các doanh nghiệp trong nước làm rõ.

Dù Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng không thể phủ nhận rằng hơn 70% người dân trong nước vẫn còn phụ thuộc lâu dài vào nông nghiệp. Đồng thời nông nghiệp vẫn sẽ còn là một thế mạnh hiếm hoi trong một thời gian dài.

Nếu xác định sai nguyên nhân hay những người trong cuộc không dám đối diện với chính mình sẽ dẫn đến những kết quả tệ hại là điều khó tránh khỏi. Khi đó, người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả của những sai lầm này không ai khác chính là người nông dân. Và nên nhớ rằng nông dân là thành phần đang chiếm đa số người dân Việt Nam hiện nay. Do đó cần tỉnh táo để tìm ra một hướng đi phù hợp mang lại đời sống sung túc cho người nông dân là điều vô cùng cần thiết.

  • TRẦN MINH QUÂN

Sự hèn hạ mang tên Trung Quốc

Tháng Sáu 11, 2011 8 comments

Trước đây, trong một bài viết phản ánh về hành vi bắt bớ, cướp bóc ngư dân Việt Nam từ phía tàu cá Trung Quốc, nhà báo Huy Đức đã chỉ ra rằng “tàu thì lạ mà sự hèn hạ thì quen”, nhưng xem ra đến hôm nay tất cả đều quen, không còn gì là “lạ” mà chỉ có thể gọi là sự hèn hạ mang tên Trung Quốc.

Tàu tăm dò địa chấn Bình Minh II bị cắt cáp

Cái tên Trung Quốc đang là tâm điểm chú ý của dư luận thế giới, đặc biệt là tại các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trước ống kính của dư luận, Trung Quốc đang dần lộ diện là chính mình: một gã khổng lồ tham lam, xấu xí.

Có rất nhiều yếu tố như hàng hóa, con người, tính cách, ứng xử với láng giềng, … của những người, đơn vị và kể cả các cơ quan nhà nước Trung Quốc với vô vàn điểm đen được biết đến trong thời gian gần đây đã biến một hình ảnh Trung Quốc từ năng động, phát triển trở thành một bức tranh toàn gam màu tối.

Trong vài chục năm trở lại đây, Trung Quốc nổi lên là một nhà sản xuất cung cấp phần lớn sản phẩm cho thế giới. Có người ví Trung Quốc là công xưởng của thế giới hiện đại. Nhưng cũng từ đây, hình ảnh các sản phẩm mang nhãn mác “Made in China” luôn là nỗi ám ảnh của người sử dụng. Hàng hóa Trung Quốc luôn mang trong mình những bất ổn tiềm ẩn, từ những mặt hàng kỹ thuật kém chất lượng đến các sản phẩm tiêu dùng, thực phẩm có chứa chất độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe của người sự dụng.

Trung Quốc luôn là nơi sản sinh ra những con người lừa đảo. Đã có rất nhiều vụ lừa đảo mang tên “quốc tịch” Trung Quốc xảy ra. Đỉnh điểm là mới đây, chính quyền các quốc gia Indonesia, Malaysia, … đã bắt và trục xuất hàng trăm người lừa đảo xuyên quốc gia có “gốc gác” từ Trung Quốc đại lục và Đại Loan. Quả thật, chỉ trong một chiến dịch truy quét tội phạm lừa đảo tại riêng Indonesia mà đã bắt giữ hàng trăm người mang quốc tịch Trung Quốc, Đài Loan thì khỏi phải nói ai cũng biết rằng lừa đảo đã “phát triển” trong dòng máu Trung Hoa lớn đến mức nào.

Và tại Việt Nam, cái tên Trung Quốc lại càng không xa lạ. Trong nhiều năm liền, nông dân Việt Nam đã nếm trải bao nhiêu trái đắng cũng vì sự “hút hàng” có nguồn gốc từ phương bắc. Từ những câu chuyện đâu lòng về rau bắp, sừng trâu, quả cau non, … đến những đoàn xe tải dưa hấu phải chịu cảnh chín thúi khi phải nằm dài chờ đợi trước khi qua cửa khẩu Trung Quốc. Và ghê tởm hơn, các loại “thú nuôi” bị cả thế giới lên án như ốc bươu vàng và đĩa, … cũng lại nhận được sự “quan tâm” từ người bạn hàng Trung Quốc, …

Ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt

Ấy vậy mà vẫn không biết “quái chiêu” sắp tới sẽ là gì lại đổ tiếp lên đầu những người nông dân Việt Nam vốn thật thà, chất phát, lại cả tin.

Chưa hết, với những ai từng đi biển, nhất là ở các ngư trường xa như khu vực quần đảo Hoàng Sa đều không khỏi lo sợ trước dã tâm và độc ác của người Trung Quốc. Trong nhiều năm nay, đã có hàng trăm vụ bắt bớ, đánh đập, cướp bóc ngư dân Việt Nam xảy ra khiến cho nhiều người lâm vào cảnh nợ nần, tan nhà nát cửa, thậm chí đã có không ít ngư dân ra đi mà không có ngày về.

Chưa dừng lại ở đó, liên tiếp những vụ tàu Trung Quốc uy hiếp tàu cá, tàu khảo sát địa chấn của Việt Nam, xâm phạm trắng trợn lãnh hải Việt Nam đã xảy ra.

Mặc dù đã được báo chí và các cơ quan chức năng của Việt Nam lên tiếng phản đối mạnh mẽ nhưng những hành động ngang ngược của Trung Quốc vẫn không dừng lại ở đó. Và mới tức thì, tàu Bình Minh 2 đang thăm dò địa chất tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam lại bị tàu hải giám Trung Quốc ve vãng, đe dọa.

Tuy đã có những hành động xâm phạm trắng trợn chủ quyền lãnh hải Việt Nam nhưng phía Trung Quốc lại lớn tiếng cáo buộc tàu Việt Nam đã vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Đây đích thị là hành động vừa ăn cướp vừa la làng. Chưa biết sắp tới đây Trung Quốc sẽ còn có những hành động gì khác để ghi thêm thành tích vào bảng vàng xấu xí, hèn hạ của mình. Nhưng có lẽ như một kẻ đang trong cơn điên loạn, có rất nhiều khả năng Trung Quốc sẽ không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào nhằm thỏa mãn được lòng tham của mình.

Trước đây, trong một bài viết phản ánh về hành vi bắt bớ, cướp bóc ngư dân Việt Nam từ phía tàu cá Trung Quốc, nhà báo Huy Đức đã chỉ ra rằng “tàu thì lạ mà sự hèn hạ thì quen”, nhưng xem ra đến hôm nay tất cả đều quen, không còn gì là “lạ” mà chỉ có thể gọi là sự hèn hạ mang tên Trung Quốc.

Từ sự kiện tàu Bình Minh nhìn lại thực tế chủ quyền biển đảo, đời sống của ngư dân

Tháng Năm 31, 2011 6 comments

Chỉ có sự hiện diện hiên ngang không chút đắn đo, lo sợ của ngư dân Việt Nam trên biển mới là cách khẳng định chủ quyền biên giới lãnh thổ sống động và thiết thực nhất hơn bất kỳ những lời xáo rỗng nào.

Ngư dân Quãng Ngãi bị vây bắt tại vùng biển Hoàng sa- Ảnh Internet

Khoảng cuối năm ngoái, trong một lần nói chuyện với người bạn hiện đang làm việc cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tại dàn khoan khai thác dầu khí, ngoài khơi tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Thật bất ngờ khi anh cho biết, đã nhiều lần anh chứng kiến cảnh tàu Trung Quốc đánh bắt cá xung quanh khu vực anh đang làm việc.

Thử tìm lại một số thông tin cũ thì phát hiện được rằng đã không ít lần tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển miền Việt Nam.

Điển hình, vào hồi 7g30 sáng ngày 3.1.2010, lực lượng biên phòng Đà Nẵng đã phát hiện gần 20 tàu cá Trung Quốc xâm phạm trái phép lãnh hải Việt Nam trên vùng biển Thừa Thiên Huế để đánh bắt trộm hải sản.

Trước đó ngày 10.11.2009, Bộ đội Biên phòng Thừa Thiên – Huế cũng đã phát hiện 17 tàu cá Trung Quốc đang thả lưới tại vùng biển chỉ cách cảng Thuận An (Thừa Thiên – Huế) 24 hải lý về phía đông bắc.

Đặc biệt, vào ngày 31.1.2006, tàu tuần tra của Bộ đội Biên phòng Quảng Ngãi phát hiện tàu cá Trung Quốc mang tên là Nghiêu Bình 36021, do ông Băng Lục Hán (sinh 1954), làm thuyền trưởng, đang khai thác hải sản tại khu vực cách đảo Lý Sơn chỉ 5 hải lý.

Nhắc lại những sự việc này để thấy rằng trong nhiều năm qua, tàu Trung Quốc liên tục xâm phạm và đánh bắt trái phép trên vùng biển Việt Nam, từ những ngư trường gần như khu vực quần đảo Hoàng Sa đến các ngư trường xa hơn, tại các vùng biển phía nam Việt Nam.

Tuy nhiên, với một số ít vụ vi phạm lãnh hải như thế này được báo chí đăng tải trong thời gian qua, nhiều người đã dễ dàng thông cảm được rằng đây chỉ là một vài trường hợp cá biệt.

Rất có thể hành vi xâm phạm vùng biển Việt Nam của một số tàu cá Trung Quốc này là có chủ đích hoặc không chủ đích nhưng vì lý do nào khác tương tự như một vài trường hợp tàu cá Việt Nam từng bị một số quốc gia khác trong khối ASEAN bắt giữ gần đây.

Có lẽ mọi chuyện sẽ dừng lại ở đó nếu không có việc tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 2 của PVN bị 3 tàu hải giám của Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm lãnh hải và cắt cáp vào sáng 26.5 vừa qua.

Nhân sự kiện này, hàng loạt thông tin về việc tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam được nêu ra. Theo ghi nhận từ trạm kiểm soát biên phòng Đà Rằng (Phú Yên) vào tối 27.5, thuyền trưởng tàu câu cá ngừ PY92618TS, cho biết tàu của ông đang đánh bắt ở vị trí thuộc vùng biển chủ quyền của Việt Nam, nhưng xung quanh tàu ông có gần 30 chiếc tàu làm nghề chụp mực của ngư dân Trung Quốc. Nghiêm trọng hơn, thuyền trưởng Nguyễn Văn Trung, 26 tuổi, ở P.6, TP Tuy Hòa, cho biết: “Ở vùng biển từ 9-17 độ vĩ Bắc, 111-115 độ kinh Đông hiện nay dày đặc tàu của ngư dân Trung Quốc hành nghề, có ngày lên đến vài trăm chiếc. Ban đêm họ chong dàn đèn sáng đến 15 hải lý, chụp sạch mực một vùng rộng lớn, làm ngư dân chúng tôi không còn mực để câu, thiếu thứ làm mồi để câu cá ngừ đại dương”.

Không nghi ngờ gì nữa, hành vi xâm phạm lãnh hải của tàu cá Trung Quốc hoàn toàn là có chủ đích. Nguy hiểm hơn, họ lập thành từng đội với số lượng tàu rất lớn lên đến vài trăm chiếc. Với một lực lượng tàu lớn và hùng hậu như vậy thì họ không những vét sạch hải sản của khu vực họ đi qua mà còn gây rất nhiều khó khăn, nguy hiểm cho ngư dân Việt Nam mỗi khi phải đối mặt nhau trên biển.

Hãy thử tưởng tượng nếu những đoàn tàu cá Trung Quốc khai thác cá trên vùng biển Việt Nam với sự hộ tống của những tàu hải giám sẵn sàng hành xử thô bạo với tàu cá Việt Nam như từng làm với tàu Bình Minh 2 thì không biết hậu quả sẽ như thế nào?

Từ lúc giá dầu tăng cao trong thời gian qua, không ít chủ tàu đành ngậm ngùi cho thuyền neo đậu lâu dài ở bến. Trong khi đó, nếu ra khơi lại phải đối diện với nhiều nguy cơ như việc ngư trường bị xâm chiếm dẫn đến việc đánh bắt, khai thác không hiệu quả, thậm chí một số tàu còn bị bắt bớ, đánh đập, tịch thu hải sản, ngư cụ, … Có thể nói, ngư dân Việt Nam chưa khi nào lại phải đối diện với nhiều khó khăn và rủi ro như lúc này.

Mới đây, khi bị tàu cá Trung Quốc xâm chiếm ngư trường ngay trên vùng lãnh hải Việt Nam, tàu cá PY-92052 do ông Lê Văn Lực (P.6, TP Tuy Hòa) làm thuyền trưởng, cứ phải chạy lòng vòng trên biển và liên tục bị hải quân các nước xua đuổi. Phải chăng, đây cũng là tình trạng chung của nhiều ngư dân Việt Nam khác ngay  trên chính lãnh hải của mình?

Câu chuyện của tàu cá PY-92052 phải cho tàu nổi bồng bềnh vô định trên biển cho thấy rằng họ đang không có lối thoát. Nếu các cơ quan chức năng không có biện pháp can thiệp kịp thời thì cái ngày ngư dân bỏ biển sẽ không còn xa.

Tàu Bình Minh 2 bị tàu hải giám Trung  Quốc cắt cáp, đó không những là tổn thất về mặt kinh tế của PVN mà còn là vấn đề lớn hơn, thiêng liêng hơn: chủ quyền quốc gia. Thông qua sự việc này, mọi người sẽ được thấy rõ hơn thực trạng biển đảo của Việt Nam. Giờ đây, không những chúng ta yêu cầu được Trung Quốc đền bù xứng đáng cho những thiệt hại mà họ đã gây ra cho riêng tàu Bình Minh 2 mà quan trọng hơn là đấu tranh, giành lại sự công bằng cho người dân Việt Nam trên chính mãnh đất tổ quốc thiêng liêng của mình.

Ngư dân là những công dân Việt Nam ngày đêm lênh đênh trên biển. Sự hiện diện của họ trên từng vùng biển quốc gia sẽ khẳng định quyền làm chủ của mình nơi địa đầu tổ quốc. Chỉ có sự hiện diện hiên ngang không chút đắn đo, lo sợ của ngư dân Việt Nam trên biển mới là cách khẳng định chủ quyền biên giới lãnh thổ sống động và thiết thực nhất hơn bất kỳ những lời xáo rỗng nào. Đó là điều chắc chắn.

Từ sự kiện tàu Bình Minh 2 bị cắt cáp bên cạnh sự tham gia một cách nghiêm túc của báo chí trong mấy ngày qua và đặc biệt là sự quan tâm của dư luận đã cho thấy rằng người dân đã ý thức được nhiều hơn đến chủ quyền lãnh thổ. Đồng thời cũng đặt ra cho các cơ quan chức năng, chính quyền các cấp những thay đổi cần thiết trong cách nhìn nhận và trách nhiệm phải đảm bảo những đặc quyền cơ bản của người dân trên vùng biển của chính mình.

  • Trần Minh Quân

Ai sẽ về đích trước trong cuộc đua tốc độ bồi lấp sông hồ?

Tháng Năm 21, 2011 7 comments

Nếu lấy tiêu chí “tốc độ làm hoang mạc hóa sông hồ nhanh nhất” làm căn cứ để “thi thố” giữa các quốc gia thì rất nhiều khả năng Việt Nam ta sẽ là vô địch.

Nước sông Trà mỗi năm một xuống thấp, trơ đáy, những người khai thác cát sạn phải đào một mương nhỏ sâu 4 m để đưa ghe chở hàng vào bờ. Ảnh: Trí Tín.

Nếu có dịp đi dọc miền Trung vào những ngày nắng nóng này, chắc nhiều người sẽ không khó bắt gặp cảnh các con sông nằm trơ đáy, từng bãi cát trắng khô khốc như cuốn họng của con người trong cơn đói khát đang trông chờ vào sự xót thương của người qua đường.

Thực trạng các con sông đang thiếu nước, các hồ chứa nước ngọt đang bị xâm hại nghiêm trọng trên toàn lãnh thổ Việt Nam hiện nay đang đặt ra nhiều thách thức cho đời sống của con người ở hiện tại và trong tương lai.

Chỉ những ai từng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất miền trung mới thấy rõ cái sự thay đổi từng ngày trên các dòng sông. Cách đây chừng hơn chục năm, những con sông như sông Vệ, sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi và rất nhiều con sông ở các tỉnh thành khác lúc nào nước cũng tràn đầy. Ngày ấy, dù đang trong những ngày hè nắng nóng nhưng các con sông quê vẫn đầy ắp dòng nước xanh ngát chảy hiền hòa, mang nguồn sống, sự mát mẻ, dịu ngọt về xuôi phục vụ đời sống người dân nơi đây. Ấy vậy mà chỉ hơn chục năm, một khoảng thời gian rất ngắn so với tuổi đời của một dòng sông, người ta đã khiến các dòng sông đang oằn mình hấp hối.

Không phải do hạn hán mà thủ phạm gây nên tình trạng khan hiếm nước ở các con sông miền Trung không gì khác chính là nạn chặt phá rừng. Nhiều mảng rừng già đã bị chặt phá sạch. Bên cạnh đó là nạn khai thác đất, đá vô tội vạ. Và trong một vài năm gần đây, với phong trào người người, nhà nhà mạnh ai nấy phá rừng trồng cây keo (tràm) bán làm nguyên liệu giấy đã một lần nữa góp phần kết liễu sự sống của các dòng sông.

Trong khi các dòng sông đang thoi thóp thì các hồ chứa nước ngọt cũng đang bị bức tử một cách thô bạo, không thương tiếc.

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều bài viết phản ảnh thực trạng xâm hại và tàn phá hồ Ba Bể. Do cấp phép khai thác khoáng sản bừa bãi và không được sự kiểm soát của các cơ quan chức năng nên đã đẩy hồ nước được xem là một kỳ quan của Bắc bộ này vào chỗ ô nhiễm nặng, bị bồi lấp và nghiêm trọng hơn là đứng trước nguy cơ biến mất.

Hồ Ba Bể đang bị "ăn thịt" bởi bùn, đất từ các dòng sông, suối đổ vào. Ảnh: Thao Giang

Cũng liên quan đến hồ nước ngọt. Mới đây, báo chí phản ánh tình trạng hồ Dầu Tiếng, một trong những hồ nước ngọt lớn nhất Việt Nam, cũng đang đứng trước nguy cơ bị lấn chiếm nghiêm trọng. Trong thời gian qua, đã liên tiếp diễn ra những vụ cá nhân lấn chiếm lòng hồ. Các vụ lấn chiếm từ vài chục mét lòng hồ đến 5.000 m2 mà chưa có cơ quan chức năng nào lên tiếng, xử lý.

Ngoài ra, thực trạng các hồ nước ngọt bị xâm hại không chỉ xảy ra ở các vùng miền núi xa xôi mà cũng đã tồn tại và hiện vẫn đang xảy ra ngay ở thủ đô Hà Nội. Theo đề tài  nghiên cứu  “Sông hồ – nước và đô thị Hà Nội” phối hợp giữa Đại học KU Leuven với Viện Kiến trúc Quy Hoạch – ĐH Xây dựng Hà Nội, Trường ĐH Lâm nghiệp và Viện Kiến trúc Quy hoạch – Bộ Xây dựng thì từ năm 1955 đến năm 2000 thì diện tích hồ ở hà Nội bị lấp khoảng 70%.

Một đặc điểm dễ nhận thấy là sự thay đổi đến chóng mặt của các sông hồ, mà nguyên nhân chính là do con người gây ra, thường không được các cấp chính quyền địa phương nơi xảy ra thảm họa này nhìn thấy mà đa phần đều là do một số người có lương tâm phát hiện và lên tiếng.

Trong một lần khảo sát thực tế tại hồ Ba Bể, GS Đặng Hùng Võ đã đặt câu hỏi: Hệ thống chính quyền ở đây đang vô thức hay vô cảm? Tương tự như vậy, trong vòng chưa đến 50 năm mà Hà Nội đã cho lấp hết khoảng 70% các hồ nước mà không ai là người Việt Nam lên tiếng ngăn chặn hay chỉ có một vài động thái yếu ớt, để rồi vì quá bức xúc với thực trạng này mà GS.TS.KTS Kelly Shannon đến từ Đại học KU Leuven (Vương quốc Bỉ) đã chua chát mà khen rằng: Hà Nội đang “cần mẫn” lấp hồ.

Quả thật, khoảng thời gian 10 năm với các dòng sông ở miền Trung, 20 năm với hồ Ba Bể hay 50 năm với các hồ ở Hà Nội là một khoảng thời gian rất ngắn so với tuổi đời của chúng. Khoảng thời gian ấy chỉ như một cái chớp mắt. Vậy mà chỉ trong một khoảng thời gian cực ngắn đó, con người đã làm thay đổi tất cả những quy luật tự nhiên vốn đã tồn tại hàng ngàn năm.

Những hậu quả nhãn tiền đã xảy ra. Miền Trung đang thiếu nước tưới tiêu, nước sinh hoạt trong mùa nắng và lũ lụt ngày càng hung dữ vào mùa mưa, các đô thị ngập chìm trong nước chỉ với một cơn mưa lớn… Tất cả đều là hệ quả của sự vô cảm với thiên nhiên mà ra.

Nguồn nước đối với đời sống xã hội không khác nào dòng máu đang chảy trong mỗi con người. Dòng nước cạn kiệt tức là sự sống đang bị xâm hại, báo hiệu một hiểm họa đang sắp diễn ra với con người.

Phải chăng chúng ta đang quá vô cảm hay quá tham lam với chính chúng ta, với con cháu chúng ta? Đây là một câu hỏi không dễ trả lời. Nhưng với những gì đang diễn ra, nếu không có những biện pháp ngăn cản kịp thời, trả lại cho tự nhiên những quy luật vốn có của nó thì chỉ chừng vài chục năm nữa thôi, chúng ta sẽ đối diện với nguy cơ thiếu nước ngọt thực sự.

Nếu lấy tiêu chí “tốc độ làm hoang mạc hóa sông hồ nhanh nhất” làm căn cứ để “thi thố” giữa các quốc gia thì rất nhiều khả năng Việt Nam ta sẽ là vô địch.

  • TRẦN MINH QUÂN

Vài cảm nghĩ về cuộc triễn lãm ảnh “Hoàng Sa – Nhìn từ Lý Sơn”

Tháng Năm 5, 2011 4 comments

Hôm nay, ngày 5/5/2011, tại Trường Đại Học Phạm Văn Đồng, tỉnh Quảng Ngãi tổ chức lại cuộc triễn lãm ảnh “Hoàng Sa – Nhìn từ Lý Sơn” của tác giả Nguyễn Văn Minh.

Trong cuộc triễn lãm diễn ra trước đây tại Phòng VHTT TP.Quảng Ngãi, tôi có dịp ghé qua. Rất tiếc là hôm ấy không có máy hình để ghi lại những điều viết ra dưới đây. Nhưng không sao, nếu những người từng tham dự hay người dân địa phương sẽ kiểm tra điều này.

Tôi xin có một vài cảm nghĩ quanh sự kiện này giới thiệu đến quý bạn đọc gần xa.

Khách tham quan triẽn lãm ảnh diễn ra từ ngày 16.4 - 22.4 tại P.VHTT TP.Quảng Ngãi (Ảnh Internet)

Trong đợt công tác vừa rồi, tôi có dịp về thăm Quảng Ngãi, một tỉnh duyên hải miền trung, là quê hương của những người lính trong đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa năm xưa đã hy sinh để bảo vệ chủ quyền lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc.

Cũng thật tình cờ, tôi có dịp ghé thăm triễn lãm ảnh “Hoàng Sa – Nhìn từ Lý Sơn” của tác giả, nhà báo Nguyễn Văn Minh. Triễn lãm ảnh này được diễn ra từ ngày 16 đến ngày 22.04.2011 tại Phòng VHTT TP.Quảng Ngãi.

Có thể nói, đây là một trong những cuộc triễn lãm hiếm hoi của cá nhân với 58 bức ảnh mô tả một cách sinh động về đời sống sinh hoạt của bà con ngư dân của huyện đảo Lý Sơn. Bên cạnh đó là những bức ảnh về nghi lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, những tài liệu quý giá là bằng chứng sinh động về chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Tất cả những bức ảnh này, tuy số lượng còn hạn chế, bố cục còn đơn giản nhưng đã tạo được không ít cảm xúc và góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của những người làm công tác quản lý nhà nước, các cơ quan đoàn thể,  cá nhân và đặt biệt là thế hệ trẻ tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và cả nước nói chung về ý thức trách nhiệm với những người đi trước đã không ngại bao gian khó, đạp lên đàu sóng ngọn gió nhằm bảo vệ biển đảo thân yêu của tổ quốc.

Sẽ không có gì đáng nói nếu không có cuộc triễn lãm ảnh “Hoàng Sa – Nhìn từ Lý Sơn” lần nữa sẽ được khai mạc vào ngày 5-5 tại Trường Đại học Phạm Văn Đồng, tỉnh Quảng Ngãi. Là một người con của quê hương xứ Quảng, tôi xin có vài ghi chép về cuộc triễn lãm ảnh này vừa qua mà tôi có dịp ghé thăm.

Cuộc triễn lãm ảnh “Hoàng Sa – Nhìn từ Lý Sơn” của tác giả Nguyễn Văn Minh vừa qua được tổ chức tại sảnh phía dưới, tầng trệt cũng là cổng ra vào chính của Phòng VHTT TP.Quảng Ngãi với diện tích khoảng chừng 150 m2. Nhìn từ bên ngoài, nhiều người sẽ không nghĩ rằng nơi đây đã từng có một cuộc triễn lãm đầy ý nghĩa như vậy.

Với không gian trống trơn, tường sơn có nhiều chỗ đã phai màu, lại là cổng chính ra vào nên thường xuyên có xe gắn máy của những người đang làm việc bên trong chạy qua chạy lại. Thiết nghĩ, với một cuộc triễn lãm nhằm giới thiệu đến những người quan tâm về huyện đảo Lý Sơn – Hướng về Hoàng Sa, giáo dục và tuyên truyền về trách nhiệm của người dân về chủ quyền lãnh thổ thì nên được tổ chức ở một nơi trang trọng hơn. Triễn lãm được tổ chức ở một nơi trang trọng cũng là cách để chúng ta thể hiện sự ngưỡng mộ và tri ân những người đi trước, những người lính trong đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa năm xưa và cũng là cách thể hiện lòng yêu thương đối với những người dân Lý Sơn đang ngày đêm ra khơi xa đánh bắt cá xa bờ, chính họ cũng đang âm thầm bảo vệ vùng biển thiêng liêng của tổ quốc.

Về cách bố trí các bức ảnh. Mặc dù biết rằng được tổ chức trong một thời gian ngắn nhưng những người làm công tác tổ chức lại quá sơ sài trong việc bố trí và cách thức treo những bức ảnh đẹp này trên tường. Khách tham quan không khó để nhận ra những sợi kẽm được buộ̣c tạm bợ rồi được treo thoải mái trên tường. Với cách thức này, chắc chắn sẽ làm giảm đi đáng kể giá trị của những bức ảnh mà tác giả đã tốn rất nhiều công sức mới có được.

Tôi ghé xem triễn lãm ảnh vào lúc khoảng 10h sáng ngày 18.04.2011, tức là chỉ sau 2 ngày khai mạc. Lúc này trong phòng triễn lãm chỉ có một mình tôi là khách tham quan. Một lát sau thì có 1 người đàn ông lớn tuổi và 1 em học sinh ghé qua nhìn sơ lược rồi vội vã ra về.

Hỏi thăm một bạn làm công tác phục vụ mặc áo xanh Đoàn Thanh Niên thì được biết chỉ có ngày khai mạc là đông khách, trong đó chủ yếu là quan chức, bạn bè của tác giả và giới truyền thông, khách vãng lai chỉ lát đát vào ban đêm. Lật cuốn sổ ghi cảm tưởng trên một bộ bàn khách, tôi lướt đọc thì có khoảng hơn 10 lời đề tặng.

Hỏi thăm một số người bạn đang làm việc tại Quảng Ngãi thì được biết hầu như họ không hề biết đến cuộc triễn lãm này, mặc dù tôi có thấy những băng rôn giới thiệu được treo trên một vài đoạn đường quanh nơi triễn lãm.

Bấy nhiêu đó cũng đủ thấy số lượng người dân quan tâm đến sự kiện này.. Có thể là do công tác tuyên truyền chưa thực sự hiệu quả, cũng có thể là người dân chưa dành sự quan tâm đến những sự kiện hết sức ý nghĩa như thế này.

Có thể nói, cuộc triễn lãm ảnh “Hoàng Sa – Nhìn từ Lý Sơn” là cả một sự cố gắng và tâm huyết to lớn của tác giả Nguyễn Văn Minh dành cho biển đảo quê hương. Thông qua cuộc triễn lãm, tác giả và ban tổ chức luôn mong muốn đưa những hình ảnh sinh hoạt của bà con nông, ngư dân huyện đảo Lý Sơn và những giá trị văn hóa, lịch sử đến gần hơn với người dân trong nước và bạn bè quốc tế. Quan trọng hơn, qua cuộc triễn lãm ảnh này, có lẽ mong muốn của tác giả là truyền được cảm hứng về lòng yêu thương quê hương đất nước đến mới mọi người.

Với ý nghĩa vô cùng lớn lao đó, mong rằng ban tổ chức và những người liên quan nên cố gắng dành cho cuộc triễn lãm sự quan tâm hơn, trang trọng hơn trong cung cách bố trí, tổ chức đồng thời có những biện pháp làm sao để cuộc triễn lãm đến gần hơn với công chúng, khi đó cuộc triễn lãm mới thực sự trọn vẹn về mặt ý nghĩa.

  • TRẦN MINH QUÂN

Người dân Nhật Bản đang thực sự cần gì?

Tháng Ba 18, 2011 2 comments

Liên tiếp những lá thư đầy nước mắt được gửi đi từ vùng động đất phía đông đất nước Nhật Bản. Rất nhiều câu chuyện cảm động đã được kể lại về những con người giàu lòng tự trọng và đầy ắp tình yêu thương con người đã khiến không ít người bật khóc.

Quả thật, qua cơn động đất kinh hoàng ngày 11.3 mới thấy đất nước Nhật Bản đã sản sinh ra quá nhiều thứ diệu kỳ.

Trong câu chuyện mà ông Hà Minh Thành, một cảnh sát Nhật Bản gốc Việt đang tham gia hỗ trợ đảm bảo an ninh gần khu vực nhà máy điện hạt nhân Fukushima số 1, kể về những con người Nhật Bản rất đổi bình thường nhưng có cách ứng xử đầy tính nhân văn và thể hiện ý chí sắt đá trong cơn hoạn nạn đã có sức lan tỏa mãnh liệt.

Ông Hà Minh Thành kể rất nhiều chuyện, từ những chi tiết rất nhỏ đến những vấn đề lớn hơn. Trong đó đáng chú ý là hai mẫu chuyện đang được đăng tải trên rất nhiều báo cũng như rất nhiều trang blog cá nhân sau đây:

1. Tối 16-3, tôi được phái tới trường tiểu học phụ giúp hội tự trị ở đó phân phát thực phẩm cho người bị nạn. Trong hàng người rồng rắn xếp hàng, một cậu bé chừng 9 tuổi, mong manh chiếc áo thun và quần đùi trong cái rét căm căm. Cậu bé xếp hàng cuối cùng nên tôi sợ đến phiên nó thì chắc chẳng còn thức ăn nên đi lại hỏi thăm.

Cậu bé kể lúc động đất và sóng thần ập đến, cậu đang học thể dục. Cha làm việc gần đấy. Từ ban công lầu 3 của trường, cậu bé nhìn thấy người cha mắc kẹt trong chiếc xe bị cuốn phăng theo dòng nước. Nhà nằm sát bờ biển nên mẹ và em chắc cũng không kịp thoát thân. Cậu bé quay người, lau vội dòng nước mắt, giọng run run khi nhắc về người thân.

Nhìn thấy cậu bé lạnh run lập cập, tôi cởi áo khoác cảnh sát trùm lên người cậu rồi đưa khẩu phần ăn tối cho cậu bé. Cậu bé nhận túi lương khô của tôi, khom người cảm ơn.

Tôi nghĩ chắc nó sẽ ngấu nghiến ăn ngay. Nhưng cậu bé ôm bao lương khô, để vào thùng thực phẩm đang phân phát rồi quay lại xếp hàng. Trước ánh mắt sững sờ của tôi, cậu bé trả lời: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ!”.

2. Ký giả Vương Hy Văn của Thời Báo Hoàn Cầu – Trung Quốc hôm 17-3 theo tôi một ngày để lấy tin. Khi đi ngang qua ngôi nhà bị sập, vài chục triệu yen tiền giấy trôi ướt, nằm tứ tán cả bãi đất nhưng chẳng ai thèm nhặt.

Đọc hai mẫu chuyện này để thấy rằng hiện nay điều mà người dân Nhật Bản đang thực sự cần là lương thực và thuốc men.

Tiền bạc trôi vung vãi mà không ai thèm nhặt. Không phải vì họ đã quá giàu nên không cần tiền, cũng chẳng phải vì lòng tự trọng mà không nhặt tiền rơi mà chỉ với một lý do duy nhất là tiền giờ đây đối với họ chẳng nghĩa lý gì cả.

Rất nhiều người đang trong cảnh màn trời chiếu đất, đang đối diện với nguy cơ đói, khát, bệnh tật trầm trọng cần được cứu trợ kịp thời. Chính phủ Nhật Bản đã lập cầu không vận tiếp tế lương thực, thuốc men nhưng vẫn như muối bỏ bể vì lượng người mất nhà cửa, phải di tản quá lớn nên rất cần sự giúp đỡ từ nhiều quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam đang có rất nhiều lời kêu gọi quyên góp ủng hộ nạn nhân của trận động đất tại Nhật Bản và nhận được sự hưởng ứng tích cực của nhiều người. Nhưng nhìn chung, chủ yếu là giúp đỡ bằng tiền. Điều này thật đáng quý.

Nhưng như đã nói ở trên, điều mà người dân Nhật Bản cần nhất lúc này là lương thực chứ không phải là tiền. Trong khi nước ta là một nước xuất khẩu gạo lớn đứng thứ hai thế giới, do đó nên chăng cần có cơ quan, đơn vị thuộc các tổ chức nhân đạo hay nhà nước đứng ra quyên góp và quy đổi thành hiện vật (gạo, thuốc men, lương khô, …) và nhanh chóng chuyển đến nơi cần thiết để kịp thời hỗ trợ người dân Nhật Bản.

Người dân và Chính phủ Nhật Bản đã giúp đất nước chúng ta rất nhiều, từ thời chiến tranh đến thời điểm hiện tại. Đây chính là cơ hội để chúng ta thể hiện lòng biết ơn đối với ân nhân của mình. Nhưng không có gì tốt hơn ngay lúc này là miếng ăn để lấy sức mà chống chọi lâu dài trong cơn bĩ cực vì ở Việt Nam ta có câu “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Tiền bạc có thể rất cần khi mà đất nước Nhật Bản bắt đầu tái thiết và xây dựng lại đất nước, còn bây giờ hãy bắt tay vào những việc thiết thực.

  • TRẦN MINH QUÂN

Ngư dân mất tích ở Hoàng Sa: Ngư dân cần, quan chưa vội?

SGTT.VN – Tính đến ngày 21.2.2011, tàu cá mang biển kiểm soát QNg-66192 TS do anh Lê Minh Tân (47 tuổi, ở xã An Vĩnh, Huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi) làm thuyền trưởng mất tích gần hai tháng ở vùng biển Hoàng Sa.

Những người mẹ, người vợ các ngư dân mất tích ở Hoàng Sa khóc trong vô vọng. Ảnh: Minh Đức

Theo lời kể của chị Ngô Thị Việt, vợ anh Tân, thì con tàu này cùng anh Tân (thuyền trưởng) và 5 ngư dân khác rời đảo Lý Sơn thẳng tiến về hướng đảo Bom Bay, quần đảo Hoàng Sa, vào ngày 18.12.2010. Lương thực trên tàu gồm 100kg gạo, chỉ đủ cho 6 người ăn trong vòng một tháng. Thế nhưng đến ngày 23.01.2011, tức là hơn một tháng kể từ ngày xuất bến, tàu của anh Tân đã hoàn toàn mất liên lạc.

Theo một số thông tin được báo chí đăng tải, mãi đến ngày 20.2.2011, tức là sau 27 ngày tàu QNg-66192 mất tích, ông Trần Ngọc Nguyên, Chủ tịch UBND huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) mới có văn bản chính thức đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh và các ngành hữu quan có biện pháp tìm kiếm 6 ngư dân đang bị mất liên lạc dài ngày trong quá trình hành nghề trên biển.

Về phía tỉnh Quảng Ngãi, ông Trương Ngọc Nhi, phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi cho biết, trong ngày 21.2.2011 tỉnh Quảng Ngãi sẽ có văn bản gửi uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn, cục Lãnh sự (bộ Ngoại giao) nhờ can thiệp với phía Trung Quốc tổ chức tìm kiếm.

Chiều ngày 22.2, ông Trần Bút, chủ tịch UBND xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) giải thích : “Trong cuộc họp trực báo trước tết Tân Mão, chúng tôi đã báo cáo với lãnh đạo huyện về tình hình mất liên lạc của 6 ngư dân đi trên tàu ông Lê Minh Tân đi hành nghề khai thác rau Câu ở đảo Bom Bay thuộc Quần đảo Hoàng Sa. Sau đó, huyện cũng đã chỉ đạo Đồn Biên phòng 328 ở Lý Sơn cố gắng liên lạc tàu cá các ngư dân để tìm kiếm thế nhưng không nghe thấy tin tức gì”.

Theo ông Bút, theo quan niệm cư dân vùng biển đảo Lý Sơn, ngư dân mất liên lạc sáu tháng liền mới gọi là mất tích còn hai tháng không tin tức gì thì gọi là mất liên lạc với đất liền (?!). “Do vậy, huyện mới trông chờ sự nỗ lực tìm kiếm của các ngư dân địa phương, loay hoay xác minh tàu ông Tân vì sao mất liên lạc. Đến khi, gia đình các ngư dân gửi đơn cầu cứu thì huyện mới tổng hợp báo cáo tỉnh về vụ việc sáu ngư dân biệt tăm ở Hoàng Sa ”, ông Bút phân trần.

Nên nhớ rằng đây không phải là lần đầu tiên ngư dân mất liên lạc trên biển. Tuy nhiên cách thức xử lý đối với các trường hợp tàu cá của ngư dân mất tích dường như vẫn không có gì thay đổi.

Thay vì cần có những biện pháp chủ động và kịp thời thì cách thức xử lý của chính quyền là… báo cáo. Cấp dưới báo cáo lên cấp trên, cấp trên lại báo cáo, đề nghị lên cấp cao hơn. Ngư dân thì vẫn biệt vô âm tín.

Ngư dân ngày đêm bám biển, không chỉ mang nguồn cá về cho đất liền, mang lại cuộc sống ấm no cho gia đình, sự sung túc cho xã hội mà họ còn là những người đang âm thầm bảo vệ vùng biển thiêng liêng của tổ quốc ngoài xa khơi. Do đó, hơn ai hết, họ cần được quan tâm đúng mức và cần được bảo vệ, cứu giúp kịp thời mỗi khi có sự cố nào đó xảy ra.

TRẦN MINH QUÂN- Minh Đức

Kiến nghị Bộ Ngoại giao hỗ trợ tìm kiếm sáu ngư dân mất tích

 

Ngư dân Nguyễn Đảng (70 tuổi) trong giây phút đoàn tụ xúc động cùng vợ con vào ngày 26.10.2010 sau 45 ngày gặp nạn ở Hoàng Sa. Giờ đây, ông lại tiếp tục mất tích cùng năm ngư dân ở vùng biển Hoàng Sa. Ảnh: Minh Đức

Ngày 21.2, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã kiến nghị cục Lãnh sự (Bộ Ngoại giao) đề nghị hỗ trợ tìm kiếm về việc sáu ngư dân đi trên tàu ông Lê Minh Tân quê ở xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn mất liên lạc hai tháng qua trên vùng biển Hoàng Sa.

Đi trên tàu ông Tân trong phiên biển này bao gồm: Ông Lê Minh Tân (thuyền trưởng), Trần Văn Lanh quê ở xã An Vĩnh, còn bốn ngư dân: Hồ Văn Lâm, Trương Văn Tiến, Nguyễn Hoàng, Nguyễn Đảng ở xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn.

Trong số ngư dân này, có ngư dân Đảng (70 tuổi) từng gặp nạn trên tàu cá của thuyền trưởng Mai Phụng Lưu ở vùng biển Hoàng Sa được tàu cảnh sát biển Việt Nam lai dắt về đất liền vào cuối tháng 10.2010. Giờ đây ông Đảng lại tiếp tục mất tích ở Hoàng Sa.

 

 

(Bài viết đăng trên SGTT, Ngày 22/02/2011)

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.