Lưu trữ

Archive for the ‘Tư liệu, khảo cứu’ Category

Doanh nhân và tinh thần dân tộc

Tháng Mười 13, 2011 2 comments

Ông Bạch Thái Bưởi

Nếu được hỏi: Ai là doanh nhân tiêu biểu của Việt Nam từ trước đến nay? Có lẽ đáp án nhiều nhất sẽ dành cho Bạch Thái Bưởi. Điều này cũng thật dễ hiểu khi tên tuổi của ông không những gắn liền với những thành công vang dội trong sự nghiệp kinh doanh mà còn là tấm gương sáng của ý thức tự cường và tự tôn dân tộc.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở làng An Phúc, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), Bạch Thái Bưởi đã trãi qua một thời tuổi thơ khốn khó, bố mất sớm, ông phải phụ giúp mẹ bán hàng rong kiếm sống. Vốn là người họ Đỗ nhưng sau đó được một người giàu có họ Bạch nhận làm con nuôi, cho ăn học nên ông đã đổi sang họ Bạch. Và cuộc đời của ông cũng bắt đầu thay đổi từ đây.

Lúc sinh thời, ông đã từng làm qua rất nhiều công việc khác nhau, từ vị trí ký lục cho một hãng buôn của người Pháp ở phố Tràng Tiền, làm cho một xưởng thuộc hãng thầu công chính rồi đến giám đốc công trình cầu Long Biên. Từ đây, sự nghiệp kinh doanh của ông mới thực sự bắt đầu. Sau những thành công bước đầu từ việc buôn gỗ, ông mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực khác như vận tải đường sông, khai thác mỏ, in ấn, … Trong lĩnh vực nào ông cũng gặt hái được nhiều thành công rực rỡ.

Nhắc đến Bạch Thái Bưởi thì không thể không nhắc đến một sự kiện cho đến nay, hầu như chưa có một doanh nhân nào của Việt Nam có thể làm được. Vào năm 1909, khi mới bước chân vào lĩnh vực vận tải đường sông. Lúc này, ông phải đối mặt với những đối thủ rất mạnh là các chủ tàu người Pháp và người Hoa. Khi mọi “chiêu thức” như nâng cao chất lượng, hạ giá vé, … đều không mang lại thành công thì ông nghĩ đến một thứ vũ khí mà cả người Pháp lẫn người Hoa đều không có: tinh thần dân tộc. Ông tin rằng khi kinh doanh trên tổ quốc mình, quanh đồng bào mình thì chắc chắn sẽ thắng lợi. Bạch Thái Bưởi bắt đầu kêu gọi về tình đồng bào, tinh thần tương thân tương ái. Cụ thể, ông cho treo một cái ống trên tàu, để ai thấy việc làm của ông là đáng khuyến khích thì bỏ tiền vào giúp cho chủ tàu giảm lỗ. Kết quả thật bất ngờ, hành khách dần bỏ tàu Pháp, Hoa để chuyển sang tàu Việt. Và ông đã sử dụng thành công tinh thần dân tộc như một vũ khí để chiến thắng đối thủ cạnh tranh của mình.

Ngày nay, khi mọi điều kiện đều có nhiều thuận lợi, kinh tế đã có những bước phát triển nhất định. Tại Việt Nam, nhiều lớp doanh nhân liên tiếp ra đời và đã có những thành công đáng tự hào. Không ít doanh nhân đủ khả năng mua du thuyền, máy bay riêng, thậm chí cũng đã có người sở hữu một tài sản khổng lồ lên đến hàng tỉ USD. Nhưng để làm được cái điều mà Bạch Thái Bưởi đã làm hơn 100 năm về trước thì dường như chưa có ai làm được. Nói cách khác, chưa có một doanh nhân nào đủ tầm, có khả năng khơi gợi tinh thần dân tộc và biến chúng thành nội lực để đi đến thành công.

Nhắc đến ý thức tự cường và lòng tự tôn dân tộc thì không thể không nhắc đến Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore hay Israel. Những thành tựu mà những quốc gia này có được ngày hôm nay là có sự đóng góp không nhỏ của một tinh thần dân tộc mạnh mẽ.

Mặc dù người dân Hàn Quốc, Nhật Bản có mức thu nhập rất cao so với Việt Nam, họ có thừa khả năng và xứng đáng sử dụng các sản phẩm tốt hơn, cao cấp hơn nhưng họ vẫn ưu tiên sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước hay ít nhất là những thương hiệu của quốc gia họ. Thói quen này đã trở thành một nét văn hóa không thể lẫn vào đâu được dù họ sinh sống ở bất kỳ đâu. Người Hàn Quốc, Nhật Bản từ chính khách, doanh nhân đến người tiêu dùng đều là những tấm gương sáng về tinh thần tự tôn dân tộc mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải ngưỡng mộ.

Quả thật, khi nhắc đến doanh nhân Hàn Quốc và Nhật Bản rồi nhìn lại một bộ phận doanh nhân mới nổi ở Việt Nam thường xuất hiện với những siêu xe hạng sang nhất nhì thế giới và danh sách những món hàng xa xỉ này vẫn liên tiếp được nhập về thì xem ra cũng cùng mang dòng máu Á Đông nhưng quan niệm và suy nghĩ của doanh nhân ở ta và họ lại rất khác nhau. Có thể thấy doanh nhân Việt chưa thể hiện sự tôn trọng cần thiết cho hàng Việt thì rất khó kêu gọi người tiêu dùng ưu tiên cho hàng Việt do chính họ làm ra?

Thiết nghĩ, đa số người Việt Nam hôm nay cũng đã hiểu được ít nhiều về điều này và họ sẽ vui vẻ ưu tiên cho hàng hóa Việt nếu biết khơi gợi tinh thần dân tộc đúng cách. Tất nhiên, trách nhiệm chính làm cho sức mạnh này bùng nổ và lan tỏa sẽ không là ai khác mà chính là giới doanh nhân.

Tinh thần tự tôn dân tộc là một vũ khí vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam cũng vậy, dù trãi qua bao thăng trầm của lịch sử nhưng trong mỗi con người Việt Nam tinh thần ấy vẫn không ngừng tuôn chảy. Nếu những doanh nhân thế hệ hôm nay biết cách, có đủ tâm và tầm khơi gợi và phát huy cái tinh thần cao đẹp ấy thành nội lực cạnh tranh của mình thì chắc chắn tấm gương thành công sẽ không dừng lại chỉ với cái tên Bạch Thái Bưởi. Và khi đó, để thành công của mỗi doanh nhân gắn liền với tên gọi Việt Nam liệu đâu còn quá xa vời?

TRẦN MINH QUÂN

Đầu tư xây dựng thủy điện: Vì điện hay vì gỗ?

Tháng Chín 1, 2011 4 comments

Với những nguồn lợi vô giá từ gỗ của các cánh rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng quốc gia, … cần được bảo tồn nên các khu vực này đang nhận được sự “quan tâm” của các dự án thủy điện.

Mặc dù các nhà đầu tư thủy điện phải kêu than lỗ nặng nhưng vẫn có rất nhiều dự án thủy điện khác đang tiếp tục trình chờ phê duyệt, thậm chí có trường hợp chủ đầu tư còn cố tìm mọi cách để được cấp phép đầu tư, bất chấp sự phản đối gay gắt từ phía các các nhà khoa học, các cơ quan báo chí và cả các cơ quan chức năng, … Trong số đó, 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ngay trong khu vực rừng quốc gia Cát Tiên, đang thu hút sự quan tâm của dư luận, là ví dụ điển hình.

Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A: Hệ lụy khó lường!

Các nhà báo ghi hình sông Đồng Nai, đoạn thuộc khu vực xây dựng thủy điện Đồng Nai 6. Ảnh: T. NGUYÊN

Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A do Tập đoàn Đức Long – Gia Lai làm chủ đầu tư đang vấp phải sự phản đối của dư luận không chỉ vì nó nằm gọn trong khu vực cần được bảo tồn thiên nhiên nghiêm ngặt mà còn vì những khuất tất đáng lo ngại khác.

Trong đó, đáng chú ý là nghi ngờ của ông Trần Văn Thành, giám đốc Vườn quốc gia Cát Tiên khi trả lời phỏng vấn báo SGTT ngày 08.07 về tính khách quan của báo cáo kiểm tra tác động môi trường khi thực hiện dự án. Trong khi trước đó dự án này đã bị Bộ TN & MT trả về nhưng lại được Bộ NN & PTNT ủng hộ và tại sao toàn bộ chi phí cho đoàn kiểm tra (của Nhà nước) trong thời gian khảo sát đều do chủ đầu tư bỏ ra? Ngoài ra, dư luận lại một phen thót tim khi ông Nguyễn Việt Dũng, phó giám đốc trung tâm Con người và thiên nhiên (hội Liên hiệp khoa học kỹ thuật Việt Nam), nơi đang chuẩn bị hoàn tất nghiên cứu “Phát triển thuỷ điện và hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam” cho rằng bản báo cáo đánh giá tác động môi trường này chỉ là bản sao chép!

Tại sao lại có cách làm khoa học theo kiểu “ăn xổi” như thế và liệu những lợi ích đằng sau dự án thủy điện này là gì mà người ta lại cố làm thủy điện bằng mọi giá, bất chất những tác hại đến thiên nhiên, môi trường và bất chấp đạo đức, lương tâm nghề nghiệp đến vậy?

Một số ý kiến cho rằng sở dĩ có tình trạng doanh nghiệp đổ xô đi làm thủy điện là vì họ “được phép” phá rừng, bán gỗ. Theo một bài viết trên báo Nhà báo & Công luận ngày 10.11.2010 thì một doanh nhân bật mí rằng, tình trạng các doanh nghiệp đổ xô đi làm thủy điện là vì “siêu lãi”. Siêu lãi chưa phải là do bán điện vì quá trình xây dựng nhà máy bao giờ cũng mất từ 3- 5 năm- mà là từ việc được phép phá rừng làm hồ chứa và dĩ nhiên doanh nghiệp được bán số gỗ đó. Điều này cho thấy rằng tại sao hiện có nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ “tự nhiên” lại quá mặn mà với thủy điện đến vậy trong khi đây không phải là thế mạnh của họ? Và tất nhiên, để được phép khai thác gỗ một cách “hợp pháp” thì không có cách nào khác là phải nhờ đến các báo cáo “ăn xổi” như trên từ các nhà khoa học và các cơ quan chuyên trách.

Nhận xét trên đây là hoàn toàn có căn cứ khi trong những năm gần đây, các doanh nghiệp với ngành nghề chủ đạo là chế biến gỗ như Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) đã liên tục đầu tư các dự án thủy điện tại Việt Nam như thủy điện Đak Srông 2, Đak Srông 2A tại Gia Lai, Bá Thước 1 và 2 tại Thanh Hóa, … và chỉ trong thời gian hơn 3 năm, HAGL đã được cấp phép triển khai 17 dự án thủy điện tại các tỉnh Tây Nguyên, Thanh Hóa và trên nước bạn Lào. Tương tự, doanh nghiệp Đức Long – Gia Lai cũng không chịu thua kém khi cũng tham gia khá mạnh mẽ vào lĩnh vực thủy điện với các dự án như thủy điện Đăk Sepay tại Gia Lai, Sông Sen tại Quảng Trị và gần đây là hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A gây tranh cãi. Chắc chắn rằng con số các doanh nghiệp tương tự không dừng lại ở đó.

Về vấn đề khai thác gỗ dưới chiêu bài thủy điện thì không thể không nhắc đến dự án thủy điện Khe Diên tại Quảng Nam. Theo ghi nhận của báo VNN thì khi có được giấy phép khai thác gỗ tận thu gỗ trong lòng hồ nhà máy thủy điện Khe Diên do cơ quan chức năng tỉnh Quảng Nam cấp vào cuối năm 2005 như một “tấm bùa” hộ mệnh, Công ty TNHH Xây dựng Ngọc Sơn (Cty Ngọc Sơn, xã Quế Xuân 1, huyện Quế Sơn) đã bắt đầu công cuộc “tảo thanh” rừng đầu nguồn Khe Diên suốt trong năm 2006 và đầu năm 2007. Tuy nhiên, điều đáng nói là Cty Ngọc Sơn không những thực hiện tận thu tài nguyên rừng tại khu vực lòng hồ mà còn “mạnh dạn” tiến quân vào rừng nguyên sinh đầu nguồn để khai thác gỗ quí hiếm.

Một diễn  biến  khác vào năm ngoái, trong đợt xả lũ lịch sử của thủy điện A Vương, nhiều người đã ngỡ ngàng sau khi chứng kiến hàng nhìn m3 gỗ trôi dạt xuống lưu vực sông Vu Gia, Quảng Nam. Chủ nhân của lượng lớn gỗ này được xác định là ngoài lâm tặc thì thủy điện cũng đã góp phần không nhỏ để tạo nên trận “lũ gỗ” lịch sử này.

Bạt ngàn gỗ có dấu cắt gọt cẩn thận từ thượng nguồn trôi về lòng hồ thủy điện A Vương (ảnh chụp người dân địa phương vớt gỗ ngày 9-10) – Ảnh: Đ.Nam

Với những nguồn lợi vô giá từ gỗ của các cánh rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng quốc gia, … cần được bảo tồn nên các khu vực này đang nhận được sự “quan tâm” của các dự án thủy điện xem ra cũng là điều dễ hiểu.

Có những con số đang khiến nhiều người không khỏi giật mình. Theo nghiên cứu “Phát triển thủy điện và hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam”, hiện cả nước có 47/128 rừng đặc dụng có sự hiện hữu ngay trong lòng hoặc tác động từ bên ngoài của 119 dự án thủy điện lớn, nhỏ. Như vậy, trung bình mỗi vườn quốc gia, khu bảo tồn “cõng” khoảng 2,5 dự án thủy điện. Có được 1 MW điện sẽ mất 62,63 ha diện tích đất rừng và rừng đặc dụng. Đối  với rừng đặc dụng đã vậy thì chắc chắn những cánh rừng bình thường khác sẽ còn bị “tận diệt” thê thảm hơn rất nhiều.

Đầu tư cho thủy điện để cung cấp năng lượng cho sự phát triển đất nước là một nhu cầu thiết thực, nhất là với vị trí địa lý và đặc điểm sông ngòi chằn chịt với độ dốc lớn như tại Việt Nam là những thuận lợi hiếm có. Tuy nhiên, với tình trạng các dự án thủy điện đang được cấp phép tràn lan không theo quy hoạch đã gây nên nhiều bức xúc và chứa đựng nhiều rủi ro tìm ẩn cho xã hội như lũ lụt, hạn hán và hủy hoại thiên nhiên, môi trường.

Chúng ta không thể phát triển bằng mọi giá. Màu xanh của rừng đang dần thay thế bằng màu đỏ của máu khi nhìn từ trên cao. “Máu” của rừng không thể tiếp tục chảy chỉ vì lợi ích cục bộ của một vài nhà đầu tư nào đó đang núp bóng dưới những “mục tiêu” cao cả là góp phần cung cấp nguồn năng lượng cho sự phát triển của quốc gia.

  • TRẦN MINH QUÂN

“Phố người Hoa” và kiểu lý luận của chủ đầu tư

Tháng Bảy 1, 2011 6 comments

Đôi lời: Sau khi bài viết Khi người Việt Nam xây dựng phố dành riêng cho người Hoa được đăng tải. Phía chủ đàu tư dự án Đông Đô Đại Phố đã có những phản ứng cho rằng bài viết nêu lên những thông tin không chính xác và thiếu khách quan. Do đó, Tuần Việt Nam đã có một bài viết nói thêm về vấn đề này. Xin giới thiệu với quý bạn đọc.

  • Tác giả: Tuần Việt Nam

Chủ đầu tư xây dựng khu đô thị cho người Hoa ở TP. Bình Dương mới cho rằng báo chí thông tin sai lệch vì Đông Đô Đại Phố không phải xây dựng dành riêng cho người Hoa. Nhưng đáng tiếc, chính trang web của công ty này khẳng định điều ngược lại.

>>Phố người  Hoa ở Việt  Nam – Chính sách hay tầm nhìn?

>>Khi người Việt Nam xây dựng phố dành riêng cho người Hoa

Phố người Hoa: Sự thật có hay không?

Ngày 29/06/2011, ngay sau khi đăng bài viết “Khi người Việt Nam xây dựng phố dành riêng cho người Hoa“, Tuần Việt Nam nhận được công văn số 93A/ Becamex- PKD của Công ty Becamex IJC gửi báo điện tử VietNamNet cho rằng, báo đã đăng tải những quan điểm chủ quan, thiếu chính xác, không đầy đủ và gây nên những hiểu lầm đáng tiếc về dự án Đông Đô Đại Phố.

Theo đó, văn bản của công văn cho rằng:

Dự án Đông Đô Đại Phố được thiết kế nhằm cung cấp các dịch vụ dành cho những doanh nhân, doanh nghiệp châu Á đang sinh sống và làm việc tại tại Bình Dương, không phải dành riêng cho đối tượng là người Hoa như bài viết đã đề cập.

Nếu người nước ngoài muốn mua nhà cũng phải tuân thủ các quy định về quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở theo pháp luật Việt Nam ban hành. Đông Đô Đại Phố không phải là dự án được xây dựng để bán riêng cho người Trung Quốc nhập cư như quý báo so sánh.

Công ty không dành sự “ưu ái” riêng cho cộng đồng người Hoa, và khẳng định rằng đây là dự án bất động sản mang tính thương mại dịch vụ, không mang bất kỳ môt yếu tố màu sắc chính trị, tôn giáo hay sắc tộc nào.

Công ty Becamex IJC còn “phản đối việc suy diễn những thông tin về định hướng phát triển dự án theo các hướng khác ngoài hướng thương mại và dịch vụ vừa kể trên”.

Trước văn bản kiến nghị của công ty Becamex IJC, chúng tôi buộc lòng phải truy cập đường link vào trang Web của chủ đầu tư. Tuy nhiên, rất đáng tiếc, những gì mà Tuần Việt Nam tìm hiểu được, không hề sai lệch so với những nội dung mà bài báo đã nêu, ngày 29/06/2011

Trang web của công ty Becamex IJC nói gì?

Để rộng đường dư luận và tôn trọng sự thật, Tuần Việt Nam chúng tôi xin trích đăng một số nội dung cơ bản, có ảnh kèm, mà trang web này đã quảng cáo cho chính dự án Đông Đô Đại Phố:

Đông Đô Đại Phố – China Town – TP mới Bình Dương. Phố người Hoa tại trung tâm Thành phố mới Bình Dương. Chủ đầu tư Becamex IJC.

Thứ hai, ngày 30 tháng năm năm 2011

Becamex IJC: Khởi Công Xây Dựng Trung Tâm Thương Mại Đông Đô – TP Mới Bình Dương

Được đăng bởi Đông Đô Đại Phố vào lúc 12:00

…Là tâm điểm nổi bật của dự án Đông Đô Đại Phố, trung tâm thương mại Đông Đô được xây dựng trên diện tích 8146 m2, có 3 mặt tiền giáp với đường lớn rộng 35m, cao 3 tầng với đầy đủ các dịch vụ kinh doanh thương mại như khu bán thời trang, đồ gia dụng, điện tử, nội thất khu ẩm thực và giải trí, được thiết kế sang trọng hài hoà giữa phong cách hiện đại mà vẫn mang đậm nét kiến trúc truyền thống của người Hoa.

Toàn cảnh buổi lễ khởi công xây dựng trung tâm thương mại Đông Đô ngày 22.05.2011
Sự kết hợp tài tình trong cách bố trí màu sắc và những biểu tượng truyền thống của người Hoa, tượng trưng cho sự thịnh vượng, vương giả và trường tồn với thời gian. Phối cảnh trung tâm thương mại Đông Đô

Bên lề buổi lễ, rất nhiều khách hàng có mặt tại buổi lễ đã bày tỏ niềm tin tưởng vào một khu đô thị phồn thịnh và sầm uất bậc nhất tại thành phố mới Bình Dương sắp được hình thành trong tương lai không xa.

Anh Quốc Tuấn- một trong những khách hàng đầu tiên đến tham dự cho biết ” Tôi đã nghiên cứu và đầu tư rất nhiều dự án tại Thành phố mới Bình Dương. Nhưng lần đầu tiên, tôi nghe nói đến một dự án được thiết kế dành riêng cho người Hoa. Tôi đã quyết định đến tham quan và tìm hiểu thêm thông tin về dự án Đông Đô Đại Phố và đã thật sự bị thuyết phục bởi những lối thiết kế rất sang trọng mang phong cách truyền thống của người Hoa và trên hết những tiện ích xung quanh mà dự án đem lại”

Theo ông Lương Ngọc Tiến – Giám đốc Kinh doanh và Phát triển dự án Becamex IJC cho biết : ” Một khu đô thị sẽ không có “sự sống” đúng nghĩa nếu như không có đầy đủ các dịch vụ cộng đồng và tiện ích xã hội. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định sẽ khởi công xây dựng trung tâm thương mại Đông Đô song song với việc triển khai những hạng mục khác của dự án, để khi bàn giao nhà cho khách hàng cũng là lúc các dịch vụ tiện ích quan trọng được hoàn thành, đảm bảo cuộc sống tiện nghi và đẳng cấp cho những cư dân sinh sống tại Đông Đô Đại Phố.”

…Đông Đô Đại Phố là dự án khu đô thị thương mại đầu tiên dành cho người Hoa tại thành phố mới Bình Dương, được xây dựng trên tổng diện tích rộng 26ha, với tổng vốn đầu tư hơn 6,5 nghìn tỉ đồng chia thành nhiều phân khu chức năng như nhà phố, văn phòng, khách sạn, nhà hàng, trung tâm thương mại.

Với vị trí đắc địa – gần trung tâm hành chính- chính trị, trung tâm văn hoá, cách chùa Bà Thiên Hậu chỉ 80m, và nhiều dịch vụ tiện ích khác như phố đi bộ, khu ẩm thực, siêu thị, sau khi hoàn thành, Đông Đô Đại Phố sẽ là khu thương mại phồn thịnh và sung túc bậc nhất tại thành phố mới Bình Dương, góp phần làm thay đổi diện mạo khu vực và là cầu nối thương mại giữa Bình Dương và quốc tế.

Những câu hỏi tại sao?

Nếu bạn đọc, đọc được những dòng quảng cáo trên, liệu họ sẽ nghĩ gì về bản chất của dự án Đông Đô Đại Phố- như chính website này tự quảng cáo, là “dành cho người Hoa tại thành phố mới Bình Dương”. Xin lưu ý là ngay cái tên gọi dự án- Đông Đô Đại Phố- cũng khó có thể gọi là một cái tên thuần Việt, ngay trên đất nước Việt Nam.

Ảnh chụp màn hình lúc 17h ngày 30/6/2011, website của Becamex IJC.

Cũng ngay sau khi đăng tải bài báo trên, rất nhiều bạn đọc của Tuần Việt Nam đã email và đặt câu hỏi: Tại sao phải xây dựng một khu phố người Hoa mà không phải của một dân tộc nào khác ở ngay trung tâm đô thị được giới thiệu là “trung tâm hành chính” trong tương lai của một tỉnh?

Và cũng trong thời buổi Internet đến tận từng ngõ ngách, mọi thông tin rất khó có thể dấu kín. Sự trung thực trong kinh doanh, không chỉ ở việc làm, mà còn ở ngay lời nói, một lần nữa lại được đặt ra. Có khi không cần phải trên bàn đàm phán giữa các đối tác làm ăn, mà chỉ cần trên một trang web nhỏ của một công ty, hay một công văn nhỏ gửi báo điện tử.

Tại sao không để một khu phố rất đặc trưng như vậy hình thành theo quy luật sinh tồn như vốn có của nó từ hàng nghìn năm nay trên khắp thế giới? Liệu người Việt Nam có bị bắt buộc không được bén mảng đến đây (trên chính đất nước Việt Nam) như tại một Casino quốc tế ở Đà Nẵng, hay một sân gofl ở ngay địa đầu Móng Cái? Đây là những câu hỏi bình thường, chỉ là những nghi ngại vì đã từng có những sự việc tương tự xảy ra.

Tại sao chúng ta không để cộng đồng người Hoa sống hòa hợp và phát triển một cách tự nhiên cùng các cộng đồng người nước ngoài khác mà phải xây dựng khu dành riêng? v…v và v…v.

Đương nhiên, trong thời hiện đại này, kinh tế luôn gắn liền với văn hóa, giáo dục và an ninh xã hội. Đất nước ta đang sống trong thời điểm cực kỳ nhạy cảm. Những người làm doanh nghiệp không chỉ chạy theo lợi ích, mà còn phải khôn ngoan, và hiểu mình nên chọn lựa hướng kinh doanh như thế nào, để tránh những hệ lụy không đáng có.

Trong bài viết “Phố người Hoa- chính sách hay tầm nhìn?”, cũng đăng trên Tuần Việt Nam mới đây, ngày 30/6/2011, có một câu rất đáng suy ngẫm: “Nước mất, nhà tan” ai cũng biết nhưng câu nói ” mất giống thì mất nước” chắc ít người để ý.

Và cũng trong thời buổi Internet đến tận từng ngõ ngách, mọi thông tin rất khó có thể dấu kín. Sự trung thực trong kinh doanh, không chỉ ở việc làm, mà ngay lời nói, một lần nữa lại được đặt ra, có khi không cần phải trên bàn đàm phán giữa các đối tác làm ăn, mà chỉ cần trên một trang Website nhỏ của một công ty, hay một công văn nhỏ gửi báo điện tử.

Bô-xít Tây Nguyên: Nỗi lo vẫn còn nguyên vẹn

Tháng Mười Một 29, 2010 Để lại phản hồi

Trong khoa học, nhất là một công trình được dư luận đặc biệt quan tâm, khẳng định phải dựa trên những cơ sở lý luận khoa học, phải được tính toán chính xác chứ không phải lời hứa suông

Sau thời gian bùng nổ thông tin về bô-xít Tây Nguyên, trong khoảng hai tuần vừa qua, dư luận về vấn đề này có phần lắng xuống, đặc biệt là sau khi đoàn kiểm tra hỗn hợp của Quốc Hội và Chính Phủ đi thị sát công trình xây dựng hai nhà máy sản xuất alumin.

Từ sau hồ chứa bùn đỏ tại Hungary bị vỡ. Hàng loạt các chuyên gia đầu ngành về luyện kim, kinh tế, văn hóa, các nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước một lần nữa lại lên tiếng bày tỏ quan điểm của mình.

Sự kiện này cũng được đề cập ngay trong hội trường Quốc Hội, trong đó nỗi bật là phát biểu, giải trình về tính an toàn của dự án của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên – Môi trường Phạm Khôi Nguyên và phát biểu của Đại biểu Dương Trung Quốc dù cho trước đó vấn đề này không có trong chương trình nghị sự. Đặc biệt, vấn đề này sẽ làm nóng hội trường trong phiên chất vấn sắp tới khi rất nhiều đại biểu quan tâm đến vấn đề này.

Dư luận vẫn chưa an tâm

Như để đáp lại sự quan tâm rộng rãi của dư luận, một đoàn kiểm tra hỗn hợp của Quốc Hội và Chính Phủ đã khảo sát thực địa tại công trường xây dựng hai dự án khai thác bô-xít chế biến alumin trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắk Nông.

Trong đợt khảo sát thực địa diễn ra vào ngày 06-07/11/2010 này, hàng loạt những giải trình, những khẳng định đã được đưa ra. Tuy nhiên vẫn còn đó những vấn đề chưa được làm rõ, vẫn cần những nghiên cứu, đánh giá chi tiết và trung thực hơn.

Mặc dù trong một hai ngày qua, nhìn lướt qua các thông tin trên các phương tiện truyền thông, tần suất xuất hiện những ý kiến quanh sự việc khai thác bô-xít đã giảm đi nhiều so với trước đó. Tuy dư luận có phần lắng xuống nhưng dường như những lo lắng, lo ngại, băn khoăn vẫn còn nguyên vẹn. Những người có trách nhiệm với vận mệnh của dân tộc, đang trăn trở với thời cuộc vẫn chưa hoàn toàn yên tâm, những con số đánh giá về hiệu quả kinh tế và tính an toàn, tác động đến môi trường của dự án vẫn chưa thuyết phục được các chuyên gia, các nhà khoa học.

Trong bài viết của mình đăng trên Diễn đàn kinh tế VN – Vietnamnet, TS.Tô Văn Trường đã chỉ ra hàng loạt những lỗ hổng trong quá trình nghiên cứu, thu thập dữ liệu và tính sơ sài trong thiết kế hồ chứa bùn đỏ. TS.Tô Văn Trường cho rằng cần phải bổ sung rất nhiều trong hồ sơ thiết kế kỹ thuật cũng như hồ sơ thiết kế thi công.

Về mặt hiệu quả kinh tế của dự án, trong đợt khảo sát vừa qua của Quốc Hội và Chính Phủ, ông Dương Văn Hòa, phó tổng giám đốc TKV cho biết đã tính hết các chi phí, thuế và kết quả cho thấy dự án vẫn có hiệu quả khoảng 12%. Tuy vậy, các chuyên gia lại cho rằng cách tính toán của chủ dầu tư, Tập đoàn than – khoáng sản VN (TKV) không đồng nhất, không minh bạch và thiếu tính thuyết phục.

Những lý do làm các chuyên gia không an tâm nhất là con số tính toán giá thành sản phẩm để tính toán hiệu quả kinh tế của dự án được đưa ra từ chính những người thuộc TKV không đủ căn cứ, thiếu tính nhất quán, cụ thể ông Nguyễn Thanh Liêm, Trưởng ban Nhôm Titan (TKV) trong hai lần đưa ra con số giá thành 1 tấn alumin là khác nhau, có sự chênh lệch đáng kể. Ngoài ra, rất nhiều yếu tố khác như thuế, đầu tư đường xá phục vụ công tác vận chuyển alumin, vấn đề tăng vốn đầu tư do sửa chữa thiết kế, kéo dài tiến độ, …  cũng chưa thật sự rõ ràng hoặc không được tính vào giá đầu vào.

Từ đó, các chuyên gia hàng đầu về luyện kim và khoáng sản như TS.Nguyễn Thành Sơn, TS.Nguyễn Văn Ban, TS.Tô Văn Trường, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, … đều tỏ ra hoài nghi về tính hiểu quả của dự án.

Cũng trong bài viết nêu trên, TS.Tô Văn Trường đã nêu những băn khoăn về cách tính toán hiệu quả kinh tế, theo đó, ông Trường băn khoăn không biết bài toán hiệu quả kinh tế được tính cho chính TKV hay cho quốc gia? Vì hai con số về hiệu quả kinh tế của TKV và của quốc gia sẽ khác nhau. Đây là một phát hiện mới cần làm rõ để những người quan tâm có thể kiểm chứng và đánh giá.

Người dân có nên tin lời hứa?

Trong đợt khảo sát thực tế của Quốc Hội và Chính Phủ tại hai dự án bô-xít Tây Nguyên vừa qua, dư luận rất quan tâm đến khẳng định rất mạnh của ông Trần Văn Trạch, được biết đến như là một chuyên gia hàng đầu về alumin, ông Trạch khẳng định rằng “Nếu cho phép đảm bảo với Quốc hội, tôi đảm bảo nếu vỡ hồ thì tôi sẵn sàng đi tù”.

Khẳng định của ông Trần Văn Trạch khiến không ít người ngạc nhiên. Trong khoa học, nhất là một công trình được dư luận đặc biệt quan tâm, khẳng định phải dựa trên những cơ sở lý luận khoa học, phải được tính toán chính xác chứ không phải lời hứa suông. Trong khi đó, nếu có sự cố gì đáng tiết xảy ra, liệu một vài cá nhân nào có thể gánh hết trách nhiệm được không? Và đến khi đó, trừng phạt một cá nhân nào đâu còn ý nghĩa nữa, bởi như cảnh báo của rất nhiều người, hậu quả của nó nếu xảy ra là vô cùng lớn, ảnh hưởng đến hàng triệu người, hủy hoại môi trường một vùng đất rộng lớn.

Tất cả các lời hứa, lời khẳng định từ trước đến nay đều chỉ căn cứ trên lý thuyết. Tại Hungary, trước khi thiết kế hồ chứa, chắc chắn rằng trên lý thuyết họ cũng đã tính toán rất kỹ càng bằng những cơ sở khoa học và kinh nghiệm khai thác bô-xít của mình, vậy tại sao sự cố vẫn xảy ra? Mới đây thôi, sự cố tràn bùn tại Cao Bằng, mặc dù bùn ở đây không độc hại như bùn thải ra từ xử lý bô-xít nhưng cũng là một lời cảnh báo đáng được quan tâm, không nên xem thường.

Ngoài những yếu tố trên, một đặc điểm rất quan trọng góp phần vào sự an toàn của hồ chứa trong lúc thi công lẫn trong lúc vận hành, đó là tính kỹ luật trong lao động của người Việt Nam chưa cao, tác phong chưa chuyên nghiệp, nhận thức vấn đề không cao, rất khó để thấy hết những hậu quả của việc vỡ hồ chứa bùn đỏ xảy ra. Trong những công việc cần có độ chính xác tuyệt đối, không có chỗ cho những sơ suất dù rất nhỏ thì người Việt Nam vẫn còn thua xa những nước công nghiệp phát triển. Lo lắng này cũng đã được GS.Phạm Duy Hiển nêu ra cho dự án nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận.

Trong cuộc khảo sát nêu trên tại hai dự án bô-xit, ông Dương Văn Hòa cũng đã tuyên bố rằng: “Tôi xin khẳng định hồ bùn đỏ của ta đảm bảo an toàn. Chúng tôi đã nhận thức được đây là vấn đề nghiêm trọng nên sẽ phải làm nghiêm túc”.

Vâng, nghiêm túc thì tất nhiên rồi, nhưng với những lý do nêu trên đây, lời khẳng định của ông Hòa xem ra vẫn chưa được độ tin cậy tuyệt đối, trong khi với hai dự án này, an toàn phải tuyệt đối, nếu không tuyệt đối thì tốt nhất là không nên làm.

Cần một nghiên cứu độc lập

Sau khi những số liệu được đưa ra, những tranh luận cởi mở của những người ủng hộ và không ủng hộ dự án được tường thuật trực tiếp, một số người cho rằng cần có nghiên cứu của những chuyên gia, những cơ quan độc lập.

Ngược lại với ý kiến của nhiều chuyên gia nêu trên, trong khi trả lời phỏng vấn của Diễn đàn Kinh tế Việt Nam, ông Trần Phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Nông cho rằng không cần thiết. Theo ông Trần Phương thì bản thân hội đồng khoa học thẩm định của Chính phủ thành lập đã mang tính độc lập đối với chủ sở hữu là TKV, hội đồng này không chỉ bao gồm mỗi Bộ Công Thương mà còn có nhiều cơ quan khác liên quan đến công nghiệp bô-xít.

Tuy nhiên, tính độc lập mà một số người yêu cầu ở đây không phải như cách hiểu ở trên, độc lập được hiểu là những chuyên gia trong hội đồng cần phải đảm bảo không có liên quan đến bất cứ một lợi ích nào khác của dự án, đồng thời độc lập cũng sẽ có những chuyên gia không làm việc trong cơ qan nhà nước thậm chí cần mời cả chuyên gia của nước ngoài, những nước có kinh nghiệp khai thác bô-xít lâu đời, họ không bị chi phối bởi bất kỳ một yếu tố nào, những tính toán của hội đồng cần đầy đủ, trung thực và cần phải được công khai.

Có như thế những yếu tố về tác động môi trường, đặc biệt là hiệu quả kinh tế mới được làm sáng tỏ. Lúc đó, những người trước đây nếu không ủng hộ dự án sẽ bị thuyết phục.

Dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên được dư luận quan tâm đặc biệt của mọi tầng lớp nhân dân, từ người dân, các chuyên gia, các phương tiện truyền thông, đến những người từng giữ chức vụ quan trọng của Nhà nước và Chính phủ. Có thể nói rằng sự việc này chưa hề có tiền lệ.

Những động thái gần đây của Chủ đầu tư, Tập đoàn TKV, của Chính phủ, Quốc hội được xem là những tín hiệu đáng mừng, điều đó chứng tỏ rằng tiếng nói của người dân, của dư luận đã ít nhiều có tác dụng tích cực, đồng thời cũng cho thấy thái độ cầu toàn của những người, những cơ quan có liên quan.

Tuy vậy, sự việc vẫn cứ được quan tâm, vẫn còn những băn khoăn nhất định cần được nghiên cứu và làm sáng tỏ hơn nữa, không thể để những lo lắng của người dân cứ treo lơ lững trên cao.

Giáo dục mầm non: vấn đề lớn đối với người nhập cư

Tháng Mười Một 14, 2010 Để lại phản hồi

Tại phiên họp Quốc hội lần thứ 8, khóa XII đang diễn ra, đại biểu Nguyễn Thị Thanh Huyền – Phú Thọ đã nêu ra những con số về thực trạng giáo dục mầm non đáng quan tâm. Đó là thực trạng có thật của xã hội. Trong vấn đề này những đối tượng chịu sự ảnh hưởng nặng nề nhất là những người lao động phổ thông, người có thu nhập thấp, đặc biệt là đối với công nhân nhập cư ở các thành phố lớn.

Tuy vậy, những đối tượng gia đình này chưa được xã hội quan tâm và tạo điều kiện đúng mức trong vấn đề giáo dục con cái, nhất là giáo dục mầm non.

Mọi người đều biết rằng, mức học phí ở bậc giáo dục mầm non thường cao hơn rất nhiều so với các bậc học khác, học phí đặc biệt cao ở các trường mầm non tư thục, các nhóm trẻ trong khi phương tiện, trang thiết bị dạy học đa số lại không đảm bảo yêu cầu cần thiết.

Mức học phí trung bình cho mỗi bé ở bậc mầm non tại các Thành phố lớn thường giao động từ 600 nghìn đồng đến 1 triệu đồng (mức phổ biến), mức học phí này tương đương bằng một nữa tháng lương của đa số đối tượng công nhân, mà đa số họ là những người nhập cư và thuộc nhóm người có thu nhập thấp. Ngoài mức học phí phải đóng hàng tháng, những chi phí khác như uống sữa, đồ ăn, thức uống, bệnh tật, thuốc men hàng ngày của mỗi bé cũng tương đương với mức học phí tại trường.

Trong khi đó trường công lập thì đang bị quá tải, hơn nữa một số trường còn ưu tiên cho người địa phương, những yêu cầu khác liên quan đến hộ khẩu thường trú cũng là rào cản để con em những người nhập cư tiếp cận với các trường mầm non công lập.

Với mức học phí cao như vậy nhưng chất lượng giáo dục tại các trường mầm non cũng đang là điều đáng quan tâm. Ngoài một số trường được trang bị khá đầy đủ các phương tiện dạy và học, bên cạnh đó còn có rất nhiều các trường còn thiếu thốn phương tiện dạy học và thiếu không gian sinh hoạt cho các em vui chơi, nhất là các nhóm trẻ tư thục. Hiện có khoảng gần 50% số phòng học của các cơ sở mầm non tư thục chưa đạt yêu cầu theo quy chế. Đây thực sự là một con số đáng báo động.

Chất lượng giáo viên cũng không được đảm bảo về mặt chuyên môn. Một số trường mầm non tư thục chỉ có một vài giáo viên có tay nghề số còn lại vẫn thuê những người không có chuyên môn nuôi dạy trẻ thậm chí tại một số nhóm trẻ tư thục không có lấy một người có chuyên môn. Đây thực sự là những bất cập đang tồn tại trong xã hội, nó còn là nguyên nhân của tình trạng bạo hành đối với trẻ em đang diễn ra đến mức báo động làm xôn xao dư luận trong thời gian qua.

Năm học 2009 – 2010 cả nước thiếu tới 25.327 giáo viên, trình độ chuyên môn còn hạn chế. Đây là một con số lớn, trong khi những giáo viên mầm non lại có xu hướng bỏ nghề do áp lực công việc và thu nhập thấp.

Đặc thù của bậc học mầm non là số lượng học sinh đông, cần nhiều giáo viên có chuyên môn, được trang bị đầy đủ những trang thiết bị cần thiết và cần có không gian rộng rãi để các em học tập sinh hoạt. Tuy nhiên mức độ đầu tư cho bậc học này nói chung chưa tương xứng với nhu cầu. Hiện nay, việc chi ngân sách Nhà nước cho giáo dục mầm non còn thấp và thiếu hụt lớn, mới đạt đến 8,5% ngân sách dành cho giáo dục, nhiều tỉnh chính sách chi cho hoạt động chuyên môn mới đạt 1% đến 2% trong tổng số chi thường xuyên. Đây là con số quá ít ỏi so với nhu cầu thực sự.

Với chất lượng cơ sở vật chất và thiếu thốn giáo viên chuyên môn như vậy nhưng các bậc cha mẹ vẫn phải chấp nhận gởi con để đi làm nhằm đảm bảo thu nhập để trang trải cuộc sống, trong khi giá cả những mặt hàng thiết yếu lại ngày càng tăng vọt, càng đắt đỏ. Đã có một số rất lớn cha mẹ do áp lực tài chính đành phải gởi con về quê cho nội ngoại nuôi dù điều đó không ai muốn.

Thực tế đang diễn ra, nó thực sự là nỗi lo, là gánh nặng kinh khủng của một số gia đình. Thậm chí có một số gia đình mà cả hai vợ chồng làm công nhân sẽ không thể nuôi nổi một bé đang học ở bậc học mầm non.

Thấy được những khó khăn này, đa số người đang độ tuổi lập gia đình (nhất là những công nhân nhập cư) không dám có gia đình, còn nếu đã có gia đình rồi thì không dám sinh con.

Từ đó dẫn điến tình trạng càng ngày càng những người nhập cư tìm đường quay về quê để sinh sống, tạo nên tình trạng thiếu lao động ở rất nhiều khu công nghiệp như trong thời gian gần đây đã xảy ra.

Các thành phố lớn như TP.HCM đã từng và vẫn đang xem lực lượng lao động nhập cư luôn là một phần không thể thiếu trong sự phát triển của thành phố. Người nhập cư đã và đang đóng góp rất lớn trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội và đang là lực lượng lao động nòng cốt cho TP.HCM nói riêng và các các đô thị khác nói chung.

Khi xã hội đã thừa nhận mức độ đóng góp của lực lượng lao động nhập cư ở các thành phố thì cũng nên xem xét những vấn đề về chất lượng cuộc sống và áp lực tài chính khiến họ đang gặp rất nhiều khó khăn, từ đó có sự chia sẻ của các cơ quan chức năng và toàn xã hội để họ an tâm làm việc, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.

Nếu các cơ quan chức năng không nhìn nhận thực trạng này một cách chính xác và có những chính sách phù hợp thì càng ngày sẽ còn nhiều người nhập cư quay lưng với các đô thị, nơi mà đối với họ áp lực về cuộc sống là quá lớn.

 

TP.HCM, Ngày 03/11/2010

Từ sự kiện Lưu Hiểu Ba, Trung Quốc nên nhìn lại chính mình

Ngay từ bây giờ, Trung Quốc nên biết hãnh diện vì công dân họ, ông Lưu Hiểu Ba là một người Trung Quốc đích thực đạt được giải Nobel danh giá

Trần Minh Quân

Những năm trước, giải thưởng Nobel ở mọi lĩnh vực tuy có ý kiến bàn tán, khen chê, có người đồng tình, có người phản đối, nhưng không gay gắt và tốn nhiều giấy mực trên các báo, báo mạng trong, ngoài nước, các blog cá nhân tiếng Việt như năm nay, đặc biệt là giải Nobel hòa bình.

Giải Nobel hòa bình năm 2010 được trao cho ông Lưu Hiểu Ba, người đang lãnh án tù giam 11 năm tại Trung Quốc.

Do đâu mà giải Nobel hòa bình năm nay lại được bàn tán nhiều đến vậy? Phải chăng do ông Lưu Hiểu Ba được trao giải khi còn đang ngồi tù. Lý do này là có thật, tuy nhiên chưa hẳn đúng. Bởi trước ông, đã từng có người đoạt giải thưởng cao quý này cũng đang ngồi tù, hay đang trong vòng lao lý. Có thể kể ra đây là ông Nelson Mandela: Ông đoạt giải Nobel hòa bình năm 1993, gắn liền với những hoạt động chống lại các chính sách phân biệt chủng tộc. Cuộc đời ông gắn liền với nhiều lần giam cầm liên tục từ năm 1962 cho tới năm 1982; Bà Aung San Suu Kyi: Bà đoạt giải Nobel hòa bình năm 1991 trong khi bà bị quản thúc tại gia, bà là nhà lãnh đạo đối lập ủng hộ dân chủ Miến Điện. Bà đã được trả tự do năm 1995, rồi vừa mới bị cầm giữ lại – và lại bị lại lần nữa. Hiện nay bà vẫn là một tù nhân.

Vậy có chăng sự bàn tán xung quanh giải thưởng Nobel hòa bình năm nay vì ông Lưu Hiểu Ba là người Trung Quốc. Thật vậy, có một đặc điểm dễ nhận thấy là trong thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông Tiếng Việt toàn thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng, đặc biệt là các Blogger, hầu hết những tin tức liên quan đến Trung Quốc hay mang yếu tố Trung Quốc đều nhận được sự chú ý. Từ những chuyện mang tầm quốc tế như giải Nobel hòa bình, tranh chấp Biển Đông, biển Hoa Đông, đến những chuyện tầm cỡ quốc gia như Bauxite Tây Nguyên, bắt ngư dân Quảng Ngãi và gần đây là bộ phim lịch sử Việt Nam tràn ngập dáng dấp Trung Quốc.

Trong hầu hết các bài viết, những phản ánh liên quan đến Trung Quốc hay mang yếu tố Trung Quốc, đa phần đều tỏ ra không hài lòng với cách cư xử, cách giải quyết của chính quyền Trung Quốc, nặng hơn là đã có những lo ngại thật sự về cách ứng xử từ phía Trung Quốc trong mọi vấn đề từ trong nước đến vấn đề quốc tế. Sự việc nổi bật trong thời gian gần đây gây sự chú ý dư luận có thể kể ra là cái lưỡi bò mà Trung Quốc tự vẽ ra trên Biển Đông.

Trung Quốc trong mắt mọi người như một anh nhà giàu tham lam, kệch cỡm. Anh nhà giàu này đã cặm cụi làm giàu bằng bất cứ giá nào, không cần biết đến đúng sai, bất chấp đạo lý miễn sao vét đầy túi tham. Khi nhìn lại, xung quanh anh ta không còn ai thân thiết, không còn ai bầu bạn. Cuối cùng anh ta bị xa lánh, bị lên án.

Đã có một bộ phận người Việt Nam không ưa thích gì người Trung Quốc, một số người cực đoan hơn còn đòi tẩy chay hàng Trung Quốc, xem Trung Quốc như một hiểm họa tiềm tàng nguy hiểm. Đó là thực tế đáng suy nghĩ đối với Trung Quốc.

Trở lại sự kiện giải thưởng Nobel hòa bình. Sự việc này sẽ không gây ồn ào dư luận nếu nó được trao cho người khác hoặc người được trao là ông Lưu Hiểu Ba không phải là người Trung Quốc. Đã có sự lên tiếng kêu gọi thả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba được phát ra từ những người có tầm ảnh hưởng nhất nhì trên thế giới như Tổng thống Mỹ Obamamột số nhân vật quan trọng của Quốc tế khác, … Trong khi đó, Trung Quốc liên tục lên tiếng phản đối giải thưởng này.

Một giải thưởng danh giá, lâu đời và có uy tín như giải Nobel được trao, tức là những người đánh giá và trao giải thưởng đã tham vấn thật kỹ càng, khách quan, đánh giá đúng công trạng của người đoạt giải. Điều đó là sự thật. Không cần phải quá nhiều bàn cãi quanh giải thưởng này như trong thời gian qua. Có chăng nên bàn tán xem người nhận giải có xứng đáng hay không xứng đáng mà thôi.

Qua sự kiện ông Lưu Hiểu Ba nhận giải thưởng Nobel hòa bình, thiết nghĩ đã đến lúc người Trung Quốc cần suy nghĩ lại, cần có cái nhìn khách quan trong mọi sự việc, có cách hành xử hợp đạo lý hơn với chính họ và với thế giới bên ngoài, lúc đó mới nhận được cái nhìn thiện cảm hơn từ mọi người.

Ngay từ bây giờ, Trung Quốc nên biết hãnh diện vì công dân họ, ông Lưu Hiểu Ba là một người Trung Quốc đích thực đạt được giải Nobel danh giá.

Hương Lan – Tuấn Vũ và Đặng Thái Sơn

 

Sự cảm thụ, trình độ cảm thụ âm nhạc của mỗi người khác nhau. Mỗi dòng nhạc đều có một đối tượng khán giả riêng. Quan trọng nhất là xây dựng một nền âm nhạc có chất lượng, có sức sống với thời gian, thể hiện được cái hay, cái đẹp.

Trần Minh Quân

Nền văn hóa của một quốc gia nói chung bao gồm rất nhiều yếu tố. Hiện nay định nghĩa về văn hóa vẫn chưa thống nhất, hiểu một cách ngắn gọn thì Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.

Theo nghĩa hẹp thì Văn Hóa dùng để chỉ văn chương và nghệ thuật, trong đó có đủ các bộ môn ca, nhạc, vũ, hội họa, điêu khắc, kiến trúc, kịch trường, điện ảnh. Nghĩa  này được dùng khi nói tới một công trình văn hóa, tác phẩm văn hóa, trung tâm văn hóa, nhà văn hóa, đêm văn hóa, trình diễn văn hóa, triển lãm văn hóa.

Vậy, để đánh giá trình độ văn hóa thấp hay cao, nếu xét riêng một khía cạnh âm nhạc thì đúng nhưng chưa đủ.

Trong âm nhạc, có thể phân chia ra những dòng nhạc khác nhau dựa trên những yếu tố khác nhau. Nếu dựa trên chiều dài lịch sử hình thành, có thể phân biệt dòng nhạc dân tộc (dân ca, dân gian) và dòng nhạc hiện đại. Nếu xét trên khía cạnh cảm thụ, đối tượng thưởng thức, có thể phân chia thành dòng nhạc quần chúng (bình dân) và dòng nhạc bác học.

Trở lại bài viết của Khi Đặng Thái Sơn không thể “địch” lại Hương Lan, Tuấn Vũ của tác giả Đặng Hữu Phúc. Tác giả so sánh sự hưởng ứng của khán giả đối với Đặng Thái Sơn và Hương Lan, Tuấn Vũ, và kết luận rằng: “sự kiện âm nhạc” nổi bật trong thời gian trước thềm Đại lễ lại là những đêm nhạc “Sến” của Hương Lan, Tuấn Vũ (!!!). Những chuyện này trước đây không thể xảy ra.

Sự so sánh này e rằng khập khiểng. Ta không thể so sánh Đặng Thái Sơn với Hương Lan, Tuấn Vũ, bởi lẽ theo định nghĩa ở trên thì Tuấn Vũ, Hương lan trình diễn loại âm nhạc bình dân, quần chúng, phù hợp với đại đa số người dân, ai cũng có thể nghe và hiểu được. Còn Đặng Thái Sơn đang trình diễn một loại âm nhạc bác học, mà đã là âm nhạc bác học thì không phải ai cũng thích xem, thích nghe và có thể cảm nhận hết cái hay, cái đẹp, cái bác học của nó.

Có một điều chắc chắn rằng Đặng Thái Sơn không bao giờ muốn mình là Hương Lan, Tuấn Vũ và ngược lại Hương Lan, Tuấn Vũ cũng sẽ không bao giờ trở thành Đặng Thái Sơn. Đặng Thái Sơn hay Hương Lan, Tuấn Vũ luôn có những khán của riêng mình. Đó là điều không cần bàn cãi.

Còn nhận định “chuyện này trước đây không thể xảy ra” cũng chưa chính xác. Sự ra đời dòng nhạc bình dân này cũng đã gắn liền và tiếp bước của dòng nhạc dân tộc, nó bình dân, mộc mạc, dễ đi vào lòng người và luôn có một lượng khán thính giả rất lớn thưởng thức và hâm mộ. Chỉ có điều, sự kiện Hương Lan, Tuấn Vũ được chào đón và hưởng ứng ngay tại Nhà Hát Lớn Hà Nội có đôi chút đáng bàn, bởi từ lâu, nơi đây thường gắn liền với những sự kiện âm nhạc lớn, mang tính bác học hơn là tính bình dân.

Nếu so sánh giữa những giá trị trong âm nhạc hiện đại nhằm đánh giá mức độ hiểu biết và trình độ cảm thụ âm nhạc, nên chăng hãy so sánh dòng nhạc “sến” của Hương Lan, Tuấn Vũ (theo tác giả Đặng Hữu Phúc) và dòng nhạc lãng mạn, tiền chiến của những tác giả nổi tiếng một thời như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Phạm Đình Chương, Đoàn Chuẩn, Từ Linh, Nguyễn Văn Thương, Lê Thương, …

Nói một cách công bằng, thực trạng hiện tại vẫn luôn có một lượng lớn khán thính giả, nhất là khán giả trẻ, đang say mê một cách mù quáng, đang cổ vũ cuồng nhiệt cho một thứ nhạc thị trường “rác rưởi”, cho những nhạc sĩ trẻ với những bài hát không giống ai, hay nói đúng hơn là phản âm nhạc. Chính xu hướng ấy, những con người ấy từ nhạc sĩ sáng tác, đến ca sĩ thể hiện, người nghe loại nhạc này mới làm hoăn ố bộ mặt văn hóa âm nhạc Việt Nam. Đây mới là điều đáng suy nghĩ.

Trong bài viết Sao lại so Đặng Thái Sơn với Hương Lan, Tuấn Vũ? đăng trên Tuần Việt Nam ngày 05/09/2010, tác giả cho rằng “cảm nhận âm nhạc của người Việt Nam nói chung và cảm nhận âm nhạc của người Hà Nội nói riêng ngày càng đơn giản, dễ dãi. Nguyên nhân một phần do cơ chế thị trường. Những chủ thể đầu tư vào thị trường âm nhạc luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu, thị trường tự điều chỉnh có cầu thì cung sẽ đáp ứng tối đa và mặc dù kinh doanh mặt hàng đặc biệt là văn hóa nhưng cơ quan quản lý nhà nước không định hướng, kiểm soát mới dẫn tới thực trạng như hiện nay bởi đối tượng trẻ là đối tượng rất cần nhiều định hướng đúng đắn”. Đây chính là vấn đề. Thực trạng này ai cũng có thể nhìn thấy. Tuy nhiên, để nâng cao sự hiểu biết, bắt đi sự đơn giản, dễ dãi trong tư duy cảm thụ âm nhạc là một vấn đề lớn, cần có sự hợp sức của toàn xã hội, mà đâu tiên, hãy bắt nguồn từ những nhà quản lý. Sự quá dễ dãi trong cấp phép những tác phẩm âm nhạc phản âm nhạc trong thời gian qua đã tạo nên một bộ mặt nhếch nhác của nền âm nhạc Việt Nam hiện nay. Cần thiết phải rà soát lại những tác phẩm âm nhạc “rác rưởi” này nhằm làm sạch hơn môi trường âm nhạc, trả lại cho âm nhạc vẽ đẹp vốn có của nó.

Đó là vấn đề cấp bách, cần làm ngay. Để xử lý một cách căn bản, cần thiết nhất là việc hãy đào tạo ra một lớp nhạc sĩ phải hiểu biết cái đẹp, cái hay, có tâm, có năng lực, nhằm tạo ra những tác phẩm có chất lượng. Mặc khác, hãy định hướng nhu cầu thẫm mĩ trong khán giả, nhất là khán giả trẻ, đưa hẳn vào giảng dạy trong nhà trường.

Có một câu chuyện đơn giản mà đáng suy ngẫm về cảm nhận âm nhạc cần kể ra đây cho mọi người biết. Có một người nói rằng: Thời trẻ, ông hay dắt người yêu vào phòng trà nghe nhạc. Hơn ba năm sau, ông cũng dắt người ấy (nay là vợ) vào phòng trà nghe nhạc, cũng vẫn những bài hát ấy, nay nghe lại vẫn hay như ngày nào.

Sự cảm thụ, trình độ cảm thụ âm nhạc của mỗi người khác nhau. Mỗi dòng nhạc đều có một đối tượng khán giả riêng. Quan trọng nhất là xây dựng một nền âm nhạc có chất lượng, có sức sống với thời gian, thể hiện được cái hay, cái đẹp.

Nói rằng văn hóa đang xuống cấp, đó là thực trạng có thực. Tuy nhiên, nhìn vào sự kiện Hương Lan, Tuấn Vũ được chào đón tại Nhà Hát Lớn để đánh giá e rằng chưa chính xác, mà nên nhìn tổng quan về tình hình âm nhạc Việt Nam hiện nay thì sẽ công bằng hơn.

Có nhiều Lý Công Uẩn khác nhau?

Việc tìm hiểu chính xác hình tượng và vai trò của các nhân vật lịch sử là cần thiết. Để nói ai đúng, ai sai cần có những nghiên cứu sâu sắc và tận tâm của các nhà văn hóa, nhà nghiên cứu lịch sử.

Quantcast

Tượng thờ vua Lý Thái Tổ ở chùa Kiến Sơ, Gia Lâm, Hà Nội 

Hình ảnh vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) là đề tài được quan tâm và bàn cãi rất nhiều trong thời gian vừa qua, nhất là sau khi xuất hiện đoạn trailer của bộ phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long.

Tranh cãi nhiều nhất là về trang phục của vua Lý Công Uẩn trong bộ phim, đặc biệt là chiếc mũ “Bình Thiên”.

Vậy đâu là hình ảnh thực sự của vị vua đầu tiên của triều đại nhà Lý và là người khởi xướng dời đô về thành Đại La, sau đó gọi  là thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay) khai sinh một triều đại hùng mạnh trong một thời gian dài.

Trong quá trình tìm hiểu hình tượng vị vua mà dư luận đang tranh cãi rất gay gắt trong thời gian gần đây, tôi nhận thấy có nhiều cách đánh giá và phát thảo hình ảnh vua Lý Thái Tổ khác nhau.

Tượng Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ở đền Lý Bát Đế

 

Có một sự tương đồng đến bất ngờ của những hình tượng vua Lý Thái Tổ, đó là tượng Lý Thái Tổ tại Thành Phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, tượng Lý Thái Tổ ở vườn hoa Chí Linh, Hà Nội, Tượng Lý Thái Tổ và Lý Thái Tông ở đền Lý Bát Đế và vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) trong phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long.

Trong số các hình ảnh này, vua Lý Thái Tổ đều đội mũ có hình dáng mũ “bình thiên” xuất hiện từ thời  Tần Thủy Hoàng, Trung Hoa, chỉ có điểm khác là trong hai bức tượng ở Bắc Ninh và Hà Nội không có những chuổi dây hạt kết phía trước và sau tán mũ như trong phim.

Tượng đài Lý Công Uẩn tại trung thành phố Bắc Ninh

Tại lễ khánh thành tượng đài Lý Thái Tổ tại vườn hoa Chí Linh, Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội sử học Việt Nam, nhận xét: “Bức tượng này đã phản ánh được tư thế, thần thái của vua Lý Thái Tổ”. Tức là GS Phan Huy Lê không có ý kiến nào khác về hình tượng, trang phục bức tượng có phù hợp với các tư liệu lịch sử hay không?

Tượng Lý Thái Tổ ở vườn hoa Chí Linh

 

Trong số các ý kiến phản đối trang phục của vua Lý Công Uẩn trong phim, rất nhiều ý kiến cho rằng vua đội mũ “bình thiên” là không đúng, không có cơ sở.

Theo nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân, trong bài viết Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long: Tìm đâu hồn Việt? thì không có cơ sở để thể hiện hình ảnh vua Lý Công Uẩn đội mũ “Bình Thiên” có chuổi hạt trước trán.

Lý Công Uẩn trong phim

 

Trong văn bản kiến nghị cấm chiếu bộ phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long gởi Quốc Hội, Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ dẫn chứng như sau: Về trang phục của vua, trong Lịch triều hiến chương loại chí, ở mục Quy chế về mũ áo của đế vương, Phan Huy Chú (1782 – 1840) chép: Lê Đại Hành lên ngôi, mặc áo long cổn, về sau mặc áo phần nhiều dùng vóc đỏ, mũ sức trân châu… Lý Thái Tông (vị Hoàng đế thứ hai của nhà Lý, trị vì từ năm 1028 đến năm 1054 – CHHV chú thích) mới chế thứ mũ gọi là ‘bát giác tiêu dao’ bằng vàng.

Ông Hà Vũ kết luận: Trước và sau Lý Thái Tổ, vua ta có dùng mũ đồng nghĩa vị Hoàng đế đầu tiên của Nhà Lý dùng mũ là chuyện không phải bàn cãi. Tuy nhiên, chụp cho Ngài cái mũ nhái từ mũ “Bình thiên” của Hoàng đế Trung Quốc có từ Tần Thủy Hoàng rõ ràng là bất chấp bản sắc văn hóa dân tộc.

Qua những nhận xét của một số người nghiên cứu văn hóa, lịch sử đồng thời kết hợp với những hình ảnh trong phim, bức tượng Lý Thái Tổ đang hiệu hữu ở Bắc Ninh và Hà Nội, có thể thấy rằng việc xây dựng hình ảnh vua Lý Công Uẩn còn lâu mới đến hồi kết.

Tiếp tục sưu tầm thêm một số hình ảnh lưu truyền đến hôm nay về vua Lý Công Uẩn tại các đền thờ, chùa chiền tại Việt Nam, tôi tìm thấy một vài hình tượng của Lý Công Uẩn, khác hẳn với những hình ảnh nêu trên. Bức tượng thờ vua Lý Thái Tổ ở chùa Kiến Sơ, Gia Lâm, Hà Nội là một dẫn chứng.

Việc tìm hiểu chính xác hình tượng và vai trò của các nhân vật lịch sử là cần thiết. Để nói ai đúng, ai sai cần có những nghiên cứu sâu sắc và tận tâm của các nhà văn hóa, nhà nghiên cứu lịch sử.

Bộ phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long bị lên án, và đang bị ngưng trình chiếu. Vậy còn những bức tượng đang hiện hữu tại Bắc Ninh và Hà Nội thì sao? Không thấy các nhà nghiên cứu lịch sử , văn hóa nhắc tới.

Một Lý Thái Tổ mà sao có nhiều cách thể hiện đến Vậy? Hay là có nhiều Lý Công Uẩn khác nhau?

  • Trần Minh Quân
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.